Mới đây, tại Hội nghị sơ kết, đánh giá công tác người cao tuổi 7 tháng đầu năm 2026 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng cho biết, Bộ Nội vụ đang nghiên cứu kỹ lưỡng phương án hạ độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ 75 xuống 70 tuổi. Đây là đề xuất đang nhận sự quan tâm của dư luận bởi đây không chỉ là thay đổi về một chính sách an sinh, mà còn là bước đi hướng tới mục tiêu mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội và bảo đảm thu nhập cho người cao tuổi không có lương hưu.

TS Phạm Ngọc Toàn, Giám đốc Trung tâm Thông tin phân tích dự báo chiến lược và dịch vụ công thuộc Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước và Lao động, Bộ Nội vụ nhìn nhận đề xuất này ở 2 khía cạnh. Đầu tiên, theo ông Toàn, đề này cho thấy chính sách đã bước đầu hướng tới nhóm 70 đến dưới 75 tuổi. Theo quy định hiện hành, người từ đủ 75 tuổi trở lên không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng hoặc có mức hưởng thấp hơn mức trợ cấp hưu trí xã hội mới được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội. Đối với nhóm 70 đến dưới 75 tuổi, hiện chính sách mới mở rộng cho những người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo. Vì vậy, đề xuất hạ tuổi xuống 70 về thực chất là mở rộng phạm vi bảo vệ đối với nhóm 70 đến dưới 75 tuổi hiện chưa được bao phủ.

Thứ hai, đề xuất này phù hợp với cách tiếp cận xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng. Trong đó, lương hưu dựa trên quá trình đóng góp vẫn là nền tảng đối với người lao động đủ điều kiện; còn trợ cấp hưu trí xã hội tạo một tầng bảo đảm cơ bản cho những người khi về già chưa có sự bảo đảm đầy đủ từ hệ thống đóng góp. Vì vậy, mở rộng trợ cấp hưu trí xã hội không thay thế bảo hiểm xã hội mà bổ sung vào khoảng trống của bảo hiểm xã hội. TS Phạm Ngọc Toàn cũng nhấn mạnh, giá trị quan trọng của trợ cấp hằng tháng chính là tính ổn định. Với hỗ trợ một lần sẽ giúp giải quyết khó khăn tại một thời điểm nhưng với khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, dù không lớn, vẫn tạo ra một mức thu nhập tối thiểu có thể dự liệu được, giúp người cao tuổi chủ động hơn và giảm phần nào sự phụ thuộc vào gia đình.

Rõ ràng, việc đề xuất hạ độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội có ý nghĩa an sinh lớn. Tuy nhiên, đây là vấn đề có tác động khá nhiều đến nguồn lực ngân sách nhà nước. Theo con số tính toán, nếu hạ độ tuổi hưởng trợ cấp từ 75 xuống 70 tuổi, kinh phí thực hiện dự kiến tăng thêm khoảng 11.680 tỷ đồng mỗi năm.

Vậy nguyên tắc nào cần được đặt lên hàng đầu để cân bằng giữa mở rộng an sinh và an toàn tài khóa? Trả lời câu hỏi này, theo TS Phạm Ngọc Toàn, nguyên tắc quan trọng nhất là quyền lợi được mở rộng phải đi cùng với khả năng bảo đảm nguồn lực một cách ổn định và lâu dài. Trợ cấp hưu trí xã hội khác với khoản hỗ trợ một lần. Khi Nhà nước mở rộng đối tượng thụ hưởng thì đó là cam kết chi thường xuyên trong nhiều năm và quy mô cam kết sẽ tăng lên cùng với quá trình già hóa dân số.

“Không chỉ tính số người được hưởng ngay khi chính sách có hiệu lực, mà cần dự báo số người hưởng trong 5 năm, 10 năm tới; đồng thời tính đến việc mức trợ cấp cũng phải được điều chỉnh khi giá cả và mức sống thay đổi”. Nhấn mạnh điều này, nhưng TS Phạm Ngọc Toàn cũng cho rằng, không nên nhìn toàn bộ khoản chi này đơn thuần là gánh nặng ngân sách. Chi cho trợ cấp hưu trí xã hội sẽ tạo ra lợi ích xã hội, bảo đảm mức thu nhập cơ bản cho người cao tuổi, giảm nguy cơ rơi vào nghèo khi khả năng lao động suy giảm và chia sẻ một phần trách nhiệm an sinh với gia đình. Vì vậy, khi đánh giá chính sách cần đặt chi phí ngân sách bên cạnh hiệu quả an sinh mà chính sách tạo ra.

Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, số người cao tuổi sẽ nhiều lên. Nếu chỉ hạ tuổi hưởng trợ cấp từ 75 xuống 70 mà số người tham gia bảo hiểm xã hội vẫn thấp, thì có thể vài chục năm nữa chính sách có thể lại phải tiếp tục hạ tuổi trợ cấp xuống nữa. Đây cũng là một khía cạnh được TS Phạm Ngọc Toàn nhắc tới. Bởi vậy ông Toàn cho rằng giải pháp căn cơ phải xem trợ cấp hưu trí xã hội chỉ là chiếc lưới an sinh cuối cùng; còn nhiệm vụ chính vẫn là mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội để ngày càng nhiều người tự tạo được thu nhập khi về già.

“Cần nhìn hệ thống theo đúng logic đa tầng: Bảo hiểm xã hội dựa trên đóng góp phải ngày càng trở thành tầng bảo đảm thu nhập chủ yếu khi về già; còn trợ cấp hưu trí xã hội tạo mức bảo đảm cơ bản cho những người chưa được hệ thống đóng góp bảo vệ đầy đủ. Đây cũng là hướng tiếp cận của Luật bảo hiểm xã hội 2024 khi thiết kế hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng”, TS Toàn phân tích.

Tuy nhiên để làm được điều này, chính sách cần giải quyết ba vấn đề. Thứ nhất, phải bảo đảm tham gia bảo hiểm xã hội luôn có lợi rõ ràng hơn so với không tham gia. Người lao động đóng bảo hiểm xã hội trong nhiều năm phải được hưởng lương hưu và các quyền lợi tương xứng với quá trình đóng góp; còn trợ cấp hưu trí xã hội là mức bảo đảm cơ bản của Nhà nước. Nếu quyền lợi giữa người có đóng góp và người không có quá trình đóng góp quá gần nhau thì sẽ khó tạo động lực để người dân tham gia bảo hiểm xã hội lâu dài.

Thứ hai, phải giúp người lao động có khả năng tham gia và duy trì đóng bảo hiểm xã hội, đặc biệt là lao động phi chính thức và người có thu nhập thấp. Ngoài hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, cần có phương thức đóng linh hoạt, căn cơ hơn vẫn là việc làm ổn định và thu nhập đủ để người lao động có thể dành một phần cho an sinh khi về già.

Thứ ba, cần hạn chế việc người lao động rời khỏi hệ thống trước khi hình thành được quyền hưởng lương hưu. Luật bảo hiểm xã hội 2024 đã có những thay đổi theo hướng này, như giảm thời gian đóng tối thiểu để hưởng lương hưu xuống 15 năm; đồng thời có cơ chế trợ cấp hằng tháng đối với một số người đã đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu và không nhận bảo hiểm xã hội một lần.

Như vậy, hai chính sách có hai nhiệm vụ bổ sung cho nhau: trợ cấp hưu trí xã hội xử lý khoảng trống an sinh đang tồn tại, còn mở rộng và duy trì tham gia bảo hiểm xã hội giúp giảm số người rơi vào khoảng trống đó trong tương lai.

TS Phạm Ngọc Toàn cũng nhấn mạnh, một hệ thống an sinh tốt phải đạt được ba điều: Bao phủ rộng, bảo vệ đủ và bền vững về nguồn lực và ngày càng nhiều người gài có thể sống bằng chính thành quả tích lũy của mình.