Sự tỉ mỉ làm nên hương vị chè
Nhắc đến Thái Nguyên, nhiều người nhớ tới những vùng chè nổi tiếng như Tân Cương, La Bằng. Đằng sau hương vị của mỗi chén trà là công việc nối tiếp quanh năm: chăm đất, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh, hái búp, sao, vò và lấy hương. Nghề chè đòi hỏi sự cần mẫn, kinh nghiệm cùng khả năng nhận biết những thay đổi của cây trồng và nguyên liệu qua từng công đoạn.
Với chị Bùi Thị Tình, chủ một hộ sản xuất, kinh doanh chè tại xóm Guộc, xã Tân Cương, cây chè đã gắn bó từ khi sinh ra và lớn lên. Gia đình có khoảng năm sào chè, ít nhân lực nên chị tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm.
Theo chị Tình, công việc của người trồng chè bắt đầu từ việc theo dõi thời tiết, bảo đảm nước và dinh dưỡng cho cây, nhận biết sâu bệnh và lựa chọn thời điểm thu hái. Sau mỗi lứa hái, nương chè lại cần được chăm sóc để chuẩn bị cho lứa tiếp theo.
“Khó khăn nhất là về thời tiết. Bởi vì nếu thời tiết ổn định thì cây chè không bị sâu bệnh, chứ còn thời tiết lúc nắng lúc mưa, mưa nhiều quá thì cũng gây nên tình trạng nấm và thối búp chè”, chị Tình chia sẻ.
Trồng chè cần hiểu cây, hiểu đất và thời tiết; chế biến chè lại đòi hỏi kỹ thuật cùng kinh nghiệm của người làm nghề. Chất lượng búp chè trên nương là nền tảng, nhưng để tạo ra sản phẩm có hương vị được khách hàng đón nhận, từng công đoạn chế biến đều phải được thực hiện cẩn thận.
Nghệ nhân chè Nguyễn Thị Hải, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã chè La Bằng, cho biết hợp tác xã duy trì cả phương pháp sao chè thủ công và sử dụng máy móc hiện đại. Máy móc giúp giảm sức lao động, còn kỹ thuật và cảm nhận của người làm nghề vẫn giữ vai trò quan trọng đối với chất lượng thành phẩm.
“Trong kỹ thuật sao chè thì khâu nào cũng hết sức quan trọng, nhưng quan trọng nhất là khâu diệt men. Mình phải diệt men chuẩn thì mới ra được sản phẩm tốt và khâu lấy hương cuối cùng là khâu quyết định cho sản phẩm của mình được khách hàng ưa chuộng hay không”, bà Hải nói.
Kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều năm giúp người làm chè xử lý nguyên liệu, điều chỉnh cách chế biến để giữ hương vị sản phẩm. Tuy nhiên, yêu cầu sản xuất ngày càng cao cũng khiến họ phải thường xuyên học hỏi, cập nhật kiến thức.
Chị Bùi Thị Tình tham gia các lớp tập huấn tại địa phương, học cách sử dụng phân bón hữu cơ và áp dụng quy trình chăm sóc an toàn. Việc chăm sóc nương chè vì thế vừa hướng tới chất lượng sản phẩm, vừa chú trọng sức khỏe người sản xuất và người sử dụng.
Theo bà Nguyễn Thị Hải, chuyển sang sản xuất hữu cơ cần sự kiên trì. Người trồng có thể phải trải qua giai đoạn năng suất giảm, tốn thêm công chăm sóc và gặp khó khăn hơn trong phòng trừ sâu bệnh. Trước tiên, người làm nghề phải sẵn sàng thay đổi thói quen sản xuất.
“Muốn làm chè hữu cơ thì phải thay đổi, thay đổi tư duy, thay đổi cách nghĩ, thay đổi cách làm”, bà Hải nhấn mạnh.
Với những người gắn bó lâu năm, động lực giữ nghề còn đến từ tình cảm dành cho quê hương. Chị Tình bày tỏ: “Cứ nói đến chè Tân Cương là chúng tôi cảm thấy rất vinh dự và tự hào”. Tình yêu ấy được thể hiện qua việc chăm chút nương chè, giữ chất lượng từng mẻ sản phẩm và tìm cách phát triển kinh tế gia đình từ nghề truyền thống.
Thêm hướng phát triển cho người làm chè
Làm ra chè ngon là một phần công việc. Để duy trì sinh kế, người làm chè còn phải tìm đầu ra, giới thiệu sản phẩm và giữ liên hệ với khách hàng.
Bên cạnh những mối quen và cách bán hàng truyền thống, gia đình chị Bùi Thị Tình sử dụng Facebook, Zalo, TikTok để quảng bá chè. Chiếc điện thoại trở thành phương tiện giúp một hộ sản xuất nhỏ đưa sản phẩm tới khách hàng ở xa, tiếp nhận đơn hàng và mở rộng cơ hội tiêu thụ.
Một hướng đi khác là kết hợp nghề chè với du lịch cộng đồng. Tại Hợp tác xã Trà và Du lịch cộng đồng Tiến Yên, ông Bùi Trọng Đại phát triển hoạt động sản xuất song song với dịch vụ trải nghiệm nghề.
Xuất phát từ hộ sản xuất gia đình, ông Đại thành lập hợp tác xã năm 2020 nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và tạo việc làm ổn định hơn cho lao động địa phương. Trong quá trình hoạt động, hợp tác xã có sản phẩm OCOP bốn sao. Những chuyến tham quan, học hỏi mô hình du lịch cộng đồng giúp ông nhận ra nét riêng của vùng chè quê mình có thể trở thành trải nghiệm dành cho du khách.
Năm 2023, hợp tác xã bắt đầu cải tạo khu vực sản xuất. Đến năm 2025, Tiến Yên Farmstay chính thức vận hành dịch vụ, đón khách đến tìm hiểu nghề chè, trải nghiệm và ăn, nghỉ tại chỗ.
Ở đây, du khách có thể mang gùi, đội nón ra nương hái chè cùng người dân, tham gia sao chè theo phương pháp truyền thống và mang thành quả của mình về. Qua từng công đoạn, khách được giới thiệu cách làm chè, hiểu thêm công sức của người sản xuất.
“Nếu còn thời gian, khách sẽ ngồi lại, pha những ấm chè và nghe những câu chuyện đằng sau chén chè để hiểu rõ hơn về văn hóa cũng như cách sống của quê chúng tôi”, ông Đại chia sẻ.
Theo ông Đại, hoạt động du lịch tạo thêm việc làm và nguồn thu từ dịch vụ. Khi khách mua chè ngay tại nơi sản xuất, hợp tác xã cũng có thể bán trực tiếp với giá bán lẻ thay vì chỉ giao buôn. Việc đón khách đồng thời đặt ra yêu cầu chăm chút cảnh quan, vệ sinh môi trường và cách tổ chức phục vụ.
Để phát triển theo hướng này, người làm chè cần học thêm kỹ năng giới thiệu sản phẩm, hướng dẫn trải nghiệm và tổ chức dịch vụ. Trong sản xuất, việc ghi chép quá trình canh tác cũng là thói quen cần hình thành. Ông Đại cho biết bà con vốn có kinh nghiệm chăm sóc chè nhưng trước đây thường ghi chép sơ sài; qua thời gian, người sản xuất đã dần làm quen và khắc phục hạn chế này.
Từ chăm sóc nương chè đến chế biến, bán hàng và đón khách, nghề chè hôm nay mở rộng hơn những công việc quen thuộc trước đây. Dù áp dụng máy móc, bán hàng trên mạng hay phát triển du lịch, chất lượng chè vẫn là nền tảng để giữ khách hàng. Và khi được tự tay hái, sao rồi thưởng thức một ấm trà, người đến vùng chè có thể hiểu rõ hơn sự tỉ mỉ của nghề cùng công sức gửi trong từng búp chè.
