Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong thực hiện bình đẳng giới. Theo chỉ số khoảng cách giới tổng thể, Việt Nam xếp thứ 84/145 nền kinh tế, giảm 10 bậc so với năm 2025. Tuy nhiên, những khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới vẫn còn hiện hữu trong cơ hội việc làm, thu nhập, tiếp cận nguồn lực và tham gia các lĩnh vực khoa học, công nghệ. Đáng chú ý, định kiến giới cùng gánh nặng công việc gia đình và trách nhiệm chăm sóc vẫn là những rào cản, hạn chế cơ hội học tập, việc làm và phát triển của phụ nữ.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hiền, Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung ương Hội cho biết, trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, yêu cầu bảo đảm bình đẳng giới càng trở nên cấp thiết. Theo đó, phụ nữ cần được tạo điều kiện bình đẳng trong tiếp cận công nghệ, nâng cao năng lực số và tham gia vào các hoạt động của nền kinh tế số. Thúc đẩy bình đẳng giới trong chuyển đổi số vì thế không chỉ là bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ, mà còn là cách phát huy nguồn nhân lực, tiềm năng và sức sáng tạo của một nửa dân số, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Tại Hội thảo, các đại biểu đã tập trung thảo luận thực trạng chuyển đổi số hiện nay tại Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong trong kỷ nguyên số ở các lĩnh vực khác nhau, cũng như đề xuất các giải pháp để thu hẹp những khoảng cách về giới đang cản trở sự tham gia của phụ nữ, trẻ em gái trong giáo dục, khoa học, công nghệ và thị trường lao động liên quan tới đổi mới, công nghệ và kỹ thuật số.

TS. Nguyễn Đình Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam nhấn mạnh, lồng ghép bình đẳng giới trong các chính sách, chiến lược chuyển đổi số là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Đây vừa là giải pháp cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57, vừa góp phần thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới trong gia đình, bảo đảm quyền lợi của phụ nữ, để không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình số hóa.

Theo PGS.TS Nguyễn Đức Chiện - Phó Viện trưởng Viện Xã hội học và Tâm lý học, chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội mới cho phụ nữ trong tiếp cận tri thức, việc làm, kinh doanh và đời sống kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, công nghệ không tự động tạo ra bình đẳng giới. Các chính sách và chương trình hỗ trợ cần gắn phát triển kỹ năng với việc làm, thu nhập và điều kiện thực tế của phụ nữ, mở rộng sự tham gia của phụ nữ trong STEM, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tăng cường an toàn trên môi trường số. Mục tiêu cuối cùng của chính sách thúc đẩy bình đẳng giới trong chuyển đổi số không chỉ là bảo đảm phụ nữ "không bị bỏ lại phía sau" mà còn tạo điều kiện để phụ nữ trở thành chủ thể, người sáng tạo, người ra quyết định và người hưởng lợi bình đẳng từ quá trình chuyển đổi số. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để chuyền đổi số góp phần thúc đẩy tiến bộ xã bội và bình đẳng giới bền vững.

Thạc sĩ Vũ Thị Hạnh, Trưởng phòng công nghệ, Học viện Viettel, Tập đoàn Công nghiệp -Viễn thông Quân đội, Bộ Quốc phòng cho rằng, việc phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) cần có sự nhạy cảm và trách nhiệm về giới ngay từ khâu xây dựng dữ liệu, thiết kế thuật toán đến triển khai ứng dụng. Bởi AI học từ dữ liệu do con người tạo ra, nếu dữ liệu thiếu tính đại diện hoặc chứa những định kiến giới, công nghệ có thể vô tình tái tạo, thậm chí khuếch đại bất bình đẳng trong thực tế. Vì vậy, AI có trách nhiệm giới không đơn thuần là bảo đảm công nghệ phục vụ bình đẳng cho mọi người, mà còn phải chủ động nhận diện, hạn chế những rủi ro phân biệt đối xử, bảo đảm tính công bằng, minh bạch và khả năng tiếp cận bình đẳng. Đây cũng là điều kiện để AI thực sự trở thành công cụ thúc đẩy tiến bộ xã hội, thay vì làm sâu thêm những khoảng cách giới vốn tồn tại.

TS Nguyễn Thanh Cầm - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng: "Bình đẳng giới trong chuyển đổi số không chỉ dừng ở việc để nam - nữ cùng "có mặt" trong môi trường số mà phải hướng tới bình đẳng thực chất: từ điều kiện tiếp cận, năng lực sử dụng, cơ hội ứng dụng cho đến vai trò quyết định và mức độ được bảo vệ an toàn. Cách tiếp cận này phù hợp với Luật Bình đẳng giới 2006, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và Mục tiêu phát triển bền vững số 5 của Liên hợp quốc, trong đó có yêu cầu tăng cường sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để thúc đẩy trao quyền cho phụ nữ".

Trong nhiều thập kỷ, phụ nữ thường chỉ được gắn với vai trò thụ hưởng, nhưng trong bối cảnh chuyển đổi số, nếu tiếp tục quan niệm này, chúng ta sẽ đánh mất một nửa nguồn lực sáng tạo. Phụ nữ phải được nhìn nhận là chủ thể kiến tạo, không chỉ tham gia sản xuất, thiết kế, đổi mới công nghệ mà còn tham gia quyết định kinh tế và quản lý gia đình.