Tiếp tục kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, trong buổi thảo luận tại tổ sáng 6/8 về đề án thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh, các đại biểu Quốc hội cơ bản nhất trí với sự cần thiết thành lập hai thành phố trực thuộc Trung ương. Theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, cả hai khu vực dự kiến thành lập thành phố đều bảo đảm đầy đủ 7/7 tiêu chuẩn và 5/5 điều kiện theo quy định.
Trình tự, thủ tục xây dựng các đề án đã được thực hiện theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương và nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn đơn vị hành chính. Việc lấy ý kiến cử tri và Hội đồng nhân dân tại các đơn vị chịu ảnh hưởng trực tiếp đạt tỷ lệ tán thành cao.
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp kiến nghị Quốc hội thông qua hai nghị quyết, đồng thời đề nghị các địa phương khẩn trương chuẩn bị, kiện toàn tổ chức bộ máy, thay đổi con dấu và hoàn thiện những điều kiện cần thiết để chính quyền đô thị mới vận hành đồng bộ. Dự kiến, nghị quyết thành lập thành phố Quảng Ninh có hiệu lực từ ngày 1/9/2026; nghị quyết thành lập thành phố Bắc Ninh có hiệu lực từ ngày 20/9/2026.
Không chỉ thay đổi tên gọi từ “tỉnh” thành “thành phố”
Từ thực tiễn phát triển của Quảng Ninh, đại biểu Quản Minh Cường - Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh cho biết địa phương có diện tích tự nhiên hơn 6.000 km², với 54 đơn vị hành chính cấp xã, phường. Tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 70%; GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 10.402 USD, cao gấp 2,17 lần mức bình quân cả nước.
Không chỉ tạo dấu ấn về tăng trưởng kinh tế và phát triển hạ tầng, Quảng Ninh còn triển khai nhiều chính sách giáo dục, an sinh được đại biểu đánh giá là những điểm sáng. Theo đại biểu Quản Minh Cường, địa phương có chính sách khen thưởng ở mức cao đối với học sinh đoạt giải quốc gia, trong đó học sinh là người dân tộc thiểu số được áp dụng mức hỗ trợ cao hơn. Quảng Ninh cũng cấp sách giáo khoa miễn phí, bảo đảm phòng học có điều hòa và từng bước mở rộng dịch vụ xe buýt đưa đón học sinh.
Đáng chú ý, tỉnh hỗ trợ học phí, sinh hoạt phí trong quá trình học đại học thứ nhất đối với học sinh thuộc gia đình chính sách và học sinh dân tộc thiểu số. Hệ thống đào tạo của địa phương tiếp tục được củng cố với Trường Đại học Hạ Long có gần 15.000 sinh viên, cùng các cơ sở đào tạo về y tế, văn hóa, nghệ thuật và thể thao. Những chính sách này cho thấy định hướng đầu tư cho con người, mở rộng cơ hội học tập và thu hẹp chênh lệch trong tiếp cận giáo dục giữa các nhóm dân cư.
Tuy nhiên, theo đại biểu Quản Minh Cường, điều người dân quan tâm không chỉ là Quảng Ninh được công nhận thành phố, mà cuộc sống sẽ thay đổi như thế nào sau đó. Danh xưng mới chỉ đánh dấu bước khởi đầu; nhiệm vụ khó hơn là đưa thành phố phát triển tương xứng, tiếp tục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, đồng thời giữ vững quốc phòng, an ninh.
Quan điểm này cũng được đại biểu Trần Thị Kim Nhung (đoàn ĐBQH Quảng Ninh) chia sẻ khi cho rằng mục tiêu cuối cùng của việc thành lập hai thành phố không nằm ở tên gọi. Sau khi chuyển sang mô hình mới, các địa phương phải chứng minh được đóng góp lớn hơn cho đất nước, đồng thời giúp người dân thực sự có cuộc sống tốt hơn.
Với Quảng Ninh, dù hệ thống hạ tầng, nhất là các tuyến cao tốc, đã được đầu tư khá đồng bộ, vẫn cần quan tâm hơn tới giao thông liên xã và khả năng tiếp cận dịch vụ công của người dân tại những địa bàn biên giới, còn khó khăn như Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên. Khi quy mô cấp xã mở rộng, hạ tầng giao thông và công nghệ phải giúp chính quyền gần dân, sát dân hơn, thay vì tạo thêm khoảng cách.
Quá trình phát triển cũng cần khai thác tốt hơn lợi thế của từng khu vực. Những địa bàn miền núi, biên giới có thể phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm văn hóa bản địa để tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân. Trong khi đó, đối với du lịch biển đảo, đặc biệt tại Vịnh Hạ Long, yêu cầu bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng và an toàn của phương tiện vận chuyển khách cần được đặt lên hàng đầu.
Đại biểu Nguyễn Thanh Cầm (đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp) đánh giá Quảng Ninh đã tạo được nhiều dấu ấn về phát triển văn hóa, giải trí, chuyển đổi số và quản trị địa phương. Việc đưa chỉ số hạnh phúc của người dân trở thành thước đo phát triển cho thấy địa phương không chỉ hướng tới tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Theo đại biểu, nếu người dân chưa cảm thấy hạnh phúc, chưa được lắng nghe và thấu hiểu thì sự phát triển khó có thể thực chất, bền vững. Vì vậy, khi chuyển sang mô hình thành phố, Quảng Ninh và Bắc Ninh cần tiếp tục nâng cao năng lực cán bộ cơ sở, quan tâm đào tạo cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ là người dân tộc thiểu số; đồng thời có chính sách an sinh, y tế, giáo dục phù hợp với lực lượng lao động di cư.
Bắc Ninh hiện đại nhưng không mất bản sắc Kinh Bắc
Đối với Bắc Ninh, nhiều đại biểu nhìn nhận việc thành lập thành phố sẽ tạo thêm điều kiện để địa phương phát huy vị trí cửa ngõ phía Đông Bắc của Thủ đô, lợi thế về công nghiệp công nghệ cao, logistics, dịch vụ và mạng lưới giao thông liên vùng.
Tuy nhiên, đại biểu Trần Thị Kim Nhung (đoàn ĐBQH Quảng Ninh) lưu ý, cơ cấu công nghiệp của Bắc Ninh hiện có tỷ trọng lớn trong các lĩnh vực điện tử và công nghệ cao nhưng vẫn phụ thuộc đáng kể vào hoạt động lắp ráp, nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu. Vì vậy, thành phố mới cần nâng cao nội lực kinh tế, phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế tạo và chủ động hơn về chuỗi cung ứng.
Cùng với phát triển công nghiệp, địa phương cần dành nguồn lực cho các xã, thôn còn khó khăn, nhất là những khu vực thuộc địa bàn Bắc Giang trước đây. Việc nâng cao chất lượng hạ tầng, giáo dục, văn hóa, tạo việc làm và cải thiện thu nhập tại các khu vực này có ý nghĩa quan trọng nhằm hạn chế khoảng cách giữa đô thị với vùng nông thôn, miền núi.
Nhìn từ góc độ văn hóa, đại biểu Bùi Hoài Sơn (đoàn ĐBQH Hà Nội) cho rằng việc thành lập thành phố Bắc Ninh không nên chỉ được hiểu là nâng cấp một đơn vị hành chính hay thay đổi mô hình quản trị. Đây phải là cơ hội xác lập mô hình đô thị mới, trong đó văn hóa trở thành nền tảng, hệ điều tiết và nguồn lực nội sinh cho phát triển.
Văn hóa Kinh Bắc không chỉ được thể hiện qua dân ca quan họ hay tranh dân gian Đông Hồ, mà còn là một hệ sinh thái được bồi đắp qua hàng nghìn năm, với con người, cộng đồng, phong tục, lễ hội, tín ngưỡng, làng nghề và không gian làng quê đặc trưng. Vì vậy, bảo vệ bản sắc văn hóa Kinh Bắc cần trở thành cam kết lâu dài của chính quyền đô thị mới.
Theo đại biểu Bùi Hoài Sơn, quá trình đô thị hóa phải tránh làm đứt gãy không gian văn hóa, thu hẹp vùng lõi di tích hay khiến những giá trị của làng cổ, ao làng, cây đa, bến nước, sân đình dần biến mất. Thành phố cần xác định rõ vùng bảo vệ, vùng đệm, kiểm soát mật độ và chiều cao công trình tại những khu vực có giá trị lịch sử; đồng thời đưa đặc trưng kiến trúc Kinh Bắc vào cấu trúc đô thị mới.
Việc bảo tồn cũng phải gắn với đời sống của cộng đồng. Các chính sách hỗ trợ nghệ nhân quan họ, nghệ nhân tranh Đông Hồ, người nắm giữ kỹ năng nghề truyền thống và thực hành lễ hội cần giúp họ có thể tạo sinh kế từ di sản. Khi người dân sống được và làm giàu chính đáng từ văn hóa, họ sẽ trở thành lực lượng bảo tồn hiệu quả nhất.
Những di sản như quan họ, tranh Đông Hồ, gốm Phù Lãng, đúc đồng Đại Bái, chạm khắc Phù Khê, cùng hệ thống di tích, lễ hội và ẩm thực có thể trở thành chất liệu phát triển thiết kế, điện ảnh, âm nhạc, thời trang, sản phẩm lưu niệm, nghệ thuật trình diễn, du lịch đêm và truyền thông số. Điều này sẽ giúp Bắc Ninh không chỉ là trung tâm công nghiệp điện tử, bán dẫn, vi mạch và trí tuệ nhân tạo, mà còn là trung tâm sáng tạo dựa trên văn hóa Kinh Bắc.
Việc thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh được kỳ vọng hình thành thêm hai cực tăng trưởng mới, góp phần thúc đẩy phát triển vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước. Nhưng cùng với cơ hội là yêu cầu cao hơn về quản trị, hạ tầng, an sinh và bảo tồn văn hóa. Như các đại biểu nhấn mạnh, giá trị thực sự của mô hình mới phải được đo bằng chất lượng sống của người dân: Quảng Ninh phát triển nhưng không để các vùng khó khăn bị bỏ lại phía sau; Bắc Ninh hiện đại nhưng không mất gốc, phát triển nhanh nhưng không đánh đổi di sản.
