Đây là quan điểm của GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng viện Khoa học Giáo dục Việt Nam chia sẻ tại Hội thảo “Tăng cường đào tạo kỹ năng đáp ứng thị trường lao động trong và ngoài nước trong bối cảnh chuyển đổi xanh” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) tổ chức sáng 17/4.
Hội thảo mở ra diễn đàn đối thoại gắn kết hệ thống đào tạo kỹ năng đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, đồng thời thảo luận về việc tăng cường công nhận kỹ năng giữa Việt Nam và các nước như một yếu tố then chốt để mở rộng cơ hội dịch chuyển lao động an toàn, trật tự và hợp pháp cho người lao động Việt Nam.
Theo GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh, bền vững cần một hệ thống phát triển kỹ năng, không chỉ gắn với việc đào tạo một lần mà còn là vấn đề đánh giá, công nhận, sử dụng lao động.
Trước đó, theo công bố của Cục Thống kê, cả nước hiện có hơn 53 triệu người trong độ tuổi lao động. Tuy nhiên chỉ có khoảng 1/3 trong số đó qua đào tạo, có bằng cấp, chứng chỉ. Để đạt được mục tiêu tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 40% vào năm 2030 và chuyển dịch sang mô hình di cư lao động có tay nghề cao, Việt Nam cần phải xây dựng hệ thống Giáo dục - Đào tạo linh hoạt đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
Trong khi đó, số liệu của Cục Quản lý Lao động ngoài nước (Bộ Nội vụ), mỗi năm trung bình có khoảng 150.000 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó nhu cầu đối với lao động có tay nghề có xu hướng ngày càng tăng tại các quốc gia già hóa dân số.
Tuy nhiên, việc thiếu cơ chế công nhận và chuyển đổi kỹ năng giữa các quốc gia vẫn đang hạn chế cơ hội tiếp cận việc làm yêu cầu kỹ năng cao và các kênh di cư hợp pháp của lao động Việt Nam.
Theo GS.TS Lê Anh Vinh, trong bối cảnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và già hóa dân số đang làm thay đổi rất nhanh cấu trúc việc làm và yêu cầu kỹ năng trên toàn cầu, cần chuyển tư duy đào tạo đơn lẻ, đào tạo một lần sang phát triển một hệ sinh thái kỹ năng. Trong đó, kỹ năng được hình thành qua học tập, được kiểm chứng - đánh giá, được ghi nhận bằng cơ chế tin cậy và được chuyển hóa thành cơ hội việc làm, thu nhập và dịch chuyển nghề nghiệp.
Ông Vinh đề xuất, tăng cường tính liên thông giữa các loại hình đào tạo, bảo đảm người học có thể phát triển kỹ năng một cách linh hoạt và liên tục, đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghệ cao. Đồng thời, cần thúc đẩy hợp tác công tư với sự tham gia của doanh nghiệp và các bên liên quan trong các hoạt động giáo dục, chương trình đào tạo nhằm gắn kết chặt chẽ đào tạo với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động, đặc biệt trong các lĩnh vực đang chuyển đổi nhanh như trí tuệ nhân tạo hay bán dẫn.
Trên cơ sở đó, các chương trình đào tạo cần được thiết kế theo hướng phù hợp với sự phát triển toàn diện của con người, vừa trang bị kỹ năng nghề nghiệp, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong dài hạn.
Đồng tình quan điểm này, bà Kendra Rinas, Trưởng Phái đoàn IOM tại Việt Nam cho rằng, vấn đề không chỉ dừng lại ở việc đào tạo kỹ năng mà kỹ năng còn cần phải được công nhận giữa các nước. Nếu không có các cơ chế công nhận bằng cấp, kỹ năng lẫn nhau, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài có nguy cơ bị lãng phí kỹ năng đã được đào tạo trước đó và giảm khả năng tiếp cận các cơ hội việc làm bền vững.
Các phiên thảo luận tại hội thảo, các đại biểu thống nhất quan điểm về sự cấp thiết thiết thúc đẩy công nhận lẫn nhau về kỹ năng và bằng cấp để mở rộng các cơ hội dịch chuyển lao động hợp pháp. Khi kỹ năng được công nhận và phù hợp với tiêu chuẩn thị trường lao động giữa các quốc gia, người lao động có thể dễ dàng tiếp cận các vị trí việc làm phù hợp với năng lực, được bảo vệ và đông thời giúp tăng cường hiệu quả của thị trường lao động ở cả quốc gia nguồn và quốc gia tiếp nhận.
Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và công nghệ phát triển mạnh mẽ, việc củng cố hệ thống kỹ năng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động nhu cầu kỹ năng trong tương lai và hướng tới đối chiếu công nhận kỹ năng giữa các nước là vô cùng quan trọng.
Điều này bao gồm việc tăng cường quan hệ đối tác giữa chính phủ, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và khu vực tư nhân, cũng như thúc đẩy cơ chế hợp tác đào tạo và dịch chuyển kỹ năng, kết nối đào tạo với nhu cầu nhân lực giữa các nước, qua đó nâng cao năng lực và kỹ năng của lực lượng lao động ở cả quốc gia nguồn và quốc gia tiếp nhận.
