Dù đều là những từ Hán Việt quen thuộc, thậm chí cùng chỉ một ý nghĩa gần giống nhau, nhưng nếu sử dụng không đúng ngữ cảnh thì rất dễ dẫn đến sai lệch về nghĩa, thậm chí gây hiểu nhầm trong giao tiếp, đặc biệt là trong các văn bản mang tính hành chính, trang trọng. Thực tế, trong tiếng Việt có không ít những cặp từ Hán Việt như vậy - nghe qua tưởng chừng có thể thay thế cho nhau, nhưng mỗi từ lại mang một sắc thái và phạm vi sử dụng riêng. Việc hiểu đúng và dùng đúng những từ này là một phần quan trọng trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Trao đổi về vấn đề này, TS Phạm Văn Lam - Tổng thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam cho biết, nhiều cặp từ Hán Việt có điểm tương đồng về nghĩa nhưng được sử dụng trong những ngữ cảnh riêng biệt.

Chẳng hạn, với hai từ dươnghải, đều có nghĩa là “biển” nhưng chúng có một sự khác biệt đáng kể là: Dương được sử dụng để nói về “biển lớn”, “khu vực biển rộng lớn, có tính quốc tế” như Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương; hải được sử dụng để nói về “biển nói chung” hoặc “vùng biển ven bờ”. Vì hải có nghĩa chỉ “biển nói chung”, nên nó được sử dụng để tạo ra nhiều từ quen thuộc hơn dương, như duyên hải, hàng hải, hải hành, hải đăng, hải cảng, hải sản,…

Tương tự, hai yếu tố Hán Việt songlưỡng đều mang nghĩa là “hai”, nhưng cách dùng cũng có sự khác biệt. Song theo đúng nghĩa là “cặp” hay “đôi”. Cái gì có thể xem là những thực thể riêng biệt và đi đôi, cặp đôi với nhau thì mới gọi là song; cho nên mới có song thân, song hành, song song, song phi, song ca, song sinh,… Lưỡng cũng có nghĩa là “hai”, “liên quan đến số lượng hai”, nhưng chỉ cái gì vốn là một thể thống nhất hay có tính chất đồng thời và được nhìn nhận gồm hai mặt, hai phần hợp lại (làm một) hay đi đôi, đi liền với nhau, giả định nhau, có cái này thì có cái kia… thì mới được gọi là lưỡng như trong lưỡng nghi, lưỡng diện, lưỡng phân, lưỡng cực, lưỡng nan, nhất cử lưỡng tiện,…

Một nhóm từ khác cũng thường gây nhầm lẫn là nguyên, cựucố. Theo TS Phạm Văn Lam, đây là ba từ được sử dụng để nói về “người đã từng giữ chức vụ hay là nghề gì đó trong quá khứ, mà người đó vẫn còn liên quan đến hiện tại, hiện thực đang đề cập ở một khía cạnh nào đó”. Vì thế mà chúng ta không sử dụng những từ này để nói về, chẳng hạn như Lê Lợi hay Gia Long, nhưng chúng ta lại nói cựu hoàng Bảo Đại.

Tuy nhiên, hiện nay tiếng Việt phân biệt cách dùng những từ này khác nhau khá rõ. Sự khác nhau này bao gồm cả khía cạnh logic lẫn thái độ đánh giá.

Sự phân biệt đầu tiên giữa những từ này với nhau là: cố dùng để chỉ “người đã mất”, còn nguyên, cựu không có nghĩa này. Tuy nhiên, trong tiếng Việt vẫn có những ngoại lệ, không phải ai đã mất cũng được gọi là cố, chẳng hạn, không thể dùng cố để nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ hai, trong cách nói của hệ thống chính trị và truyền thông của chúng ta, nguyên thường được sử dụng để nhấn mạnh tới một khía cạnh có tính “trang trọng, tôn trọng, tích cực, có ích, “còn nguyên”, thuộc về “phe ta, chính thống” nhiều hơn” so với cựu. Cựu đôi khi còn có thêm nét nghĩa “cũ, hết tác dụng, không còn được sử dụng, trọng dụng nữa”, thậm chí còn có thêm cả nét nghĩa “không còn được hưởng cái danh đó nữa”.

Chẳng hạn, để chỉ nguyên thủ quốc gia của các nước xã hội chủ nghĩa, người ta dùng từ nguyên như nguyên Chủ tịch nước; để chỉ người giữ chức vụ tương đương đó ở các nước tư bản, người ta dùng cựu như cựu Tổng thống.

Hoặc, một cán bộ nào đó nghỉ hưu, đã thôi chức vụ thì bình thường vẫn được gọi là nguyên; nhưng gần đây, cán bộ mà bị kỉ luật, buộc bị nghỉ hưu hay thôi chức vụ thì chỉ được gọi là cựu.

Từ cựu nếu không chỉ quan chức, chức vụ thì chỉ đơn thuần mang một nghĩa trung tính là “đã từng kinh qua, trải qua; đã từng là; trước đây là” và được sử dụng phổ biến; nguyên không được sử dụng trong những trường hợp như vậy, như trong cách nói cựu học sinh, cựu sinh viên, cựu chiến binh,…

Đối với nguyêncựu, sự khác biệt không chỉ nằm ở nghĩa mà còn liên quan đến sắc thái biểu đạt trong đời sống chính trị – xã hội. Nguyên thường mang tính trang trọng, thể hiện sự tôn trọng và đánh giá tích cực hơn, ví dụ như “nguyên Chủ tịch tỉnh”. Trong khi đó, cựu thường được dùng với nghĩa trung tính để chỉ người từng giữ chức vụ, từng trải qua một vai trò nào đó, như cựu học sinh, cựu chiến binh hay cựu sinh viên./.