Trong 2 ngày 8-9 tháng 10, Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số sẽ diễn ra tại thủ đô Hà Nội. Hội nghị lần này có sự tham dự của gần 1000 đại biểu quốc tế đến từ 40 quốc gia, vùng lãnh thổ trong đó có các trường ĐH top đầu thế giới, các tập đoàn công nghệ lớn.
Hội nghị lần này sẽ đề cập những vấn đề quan trọng quyết định chất lượng giáo dục ĐH trong bối cảnh công nghệ phát triển đột phá và những tác động của AI. Trước thềm Hội nghị, phóng viên VOV2 có cuộc phỏng vấn PGS.TS Nguyễn Thu Thủy - Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Bộ GD-ĐT.
PV: Xin bà cho biết quy mô và những vấn đề đặt ra trong Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục lần này?
PGS.TS Nguyễn Thu Thủy: Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số diễn ra trong hai ngày 8–9/10 tại Hà Nội, cùng với Triển lãm Giáo dục và Công nghệ giáo dục bên lề. Đến nay đã có hơn 900 đại biểu từ khoảng 40 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký tham dự. Trong đó có nhiều trường đại học nằm trong nhóm 100 thế giới, các tập đoàn công nghệ như Google, Meta, Amazon, Qualcomm, Intel, và các tổ chức khảo thí, tiếng Anh quốc tế như ETS, Cambridge, Oxford, Pearson. Triển lãm có 70 gian hàng, trong đó có 5 khu trưng bày lớn của Hoa Kỳ, Anh, EU, Canada, Úc và UNICEF. Hội nghị có sự tham dự của đại diện cấp cao của Anh, Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ, cùng đại diện các cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế như UNESCO, UNICEF.
Điều chúng tôi quan tâm hơn con số là những vấn đề Hội nghị đặt ra. Chuyển đổi số và AI mở ra cơ hội lớn: mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, cá thể hóa việc học, nâng cao hiệu quả quản trị. Cùng lúc, chúng đặt ra những vấn đề mới về chất lượng và độ tin cậy của thông tin, đạo đức, bản quyền, an toàn dữ liệu và nguy cơ gia tăng khoảng cách số. Câu hỏi căn bản là giáo dục phải chuẩn bị cho con người thế nào để làm chủ và làm việc hiệu quả cùng AI, thay vì phụ thuộc vào AI.
Hội nghị tập trung vào bốn nhóm vấn đề: hạ tầng và hệ sinh thái dữ liệu giáo dục thống nhất, an toàn, liên thông; năng lực của người học và nhà giáo; đổi mới mô hình đào tạo và quản trị dựa trên dữ liệu; chuẩn mực về AI an toàn, có trách nhiệm. Các phiên chuyên đề đi vào từng cấp học: giáo dục phổ thông, bảo vệ trẻ em trên môi trường số, giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Mục tiêu là để các bên cùng bàn những bài toán cụ thể.
PV: Giáo dục đại học đang có nhiều thay đổi lớn, Hội nghị này đặt ra những kỳ vọng gì cho giáo dục đại học Việt Nam?
PGSTS Nguyễn Thu Thủy: Giáo dục đại học là nơi đào tạo nhân lực trình độ cao, tạo ra tri thức và công nghệ, nên chịu tác động của AI và chuyển đổi số rõ nét. Chúng tôi có ba kỳ vọng chính.
Thứ nhất, đổi mới mô hình phát triển đại học không chỉ là việc đưa công nghệ vào mô hình sẵn có. Phiên chuyên đề về giáo dục đại học số và quốc tế hóa bàn về chiến lược đại học số, đại học thông minh, ra quyết định dựa trên dữ liệu, nền tảng học tập số, ứng dụng AI trong giảng dạy, đánh giá và quản trị. Các trường cần chuyển từ truyền thụ kiến thức sang kiến tạo môi trường học tập, phát triển năng lực, sáng tạo và trải nghiệm. Giá trị của tấm bằng đại học và mô hình năng lực của sinh viên trong kỷ nguyên AI cũng là nội dung được đưa ra thảo luận.
Thứ hai, trọng tâm phải là con người. Với người học là tư duy độc lập, phản biện, sáng tạo, biết dùng AI để nâng cao năng lực nhưng không để AI thay thế quá trình tư duy. Với người thầy, AI giúp dạy tốt hơn và hiểu người học hơn, còn vai trò sáng tạo tri thức, truyền cảm hứng và dẫn dắt vẫn là của người thầy. Phát triển năng lực số và năng lực AI cho nhà giáo là một nội dung hợp tác ưu tiên.
Thứ ba, mở rộng hợp tác theo hướng cùng kiến tạo: cùng nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm những giải pháp phù hợp với Việt Nam, và có thể đóng góp trở lại cho cộng đồng quốc tế. Để hỗ trợ việc này, Bộ GD&ĐT đang hoàn thiện khung pháp lý theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW. Dự thảo Nghị định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong giáo dục đang được lấy ý kiến rộng rãi trước khi ban hành, hướng tới đơn giản hóa thủ tục, tăng quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, mở rộng các hình thức liên kết đào tạo, cho phép lập viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo chung và phân hiệu của trường nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời bảo đảm chất lượng và quyền lợi người học.
Chúng tôi tin tưởng rằng với sự chủ động đổi mới, chiến lược dài hạn và quyết tâm đầu tư, các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam sẽ từng bước nâng cao vị thế và hội nhập thành công.
PV: Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đại học cần thay đổi như thế nào để rút ngắn lộ trình hội nhập của giáo dục đại học Việt Nam với thế giới?
PGS.TS Nguyễn Thu Thủy: Hợp tác quốc tế cần được coi là một năng lực cốt lõi của mỗi cơ sở giáo dục đại học, không chỉ là hoạt động đối ngoại bổ trợ, và không thể chỉ đo bằng số biên bản ghi nhớ, số đoàn ra đoàn vào hay số chương trình liên kết. Muốn rút ngắn lộ trình hội nhập, theo tôi cần có năm hướng dịch chuyển.
Thứ nhất: Từ chiều rộng sang chiều sâu. Mỗi trường nên chọn một số đối tác thực sự phù hợp và hợp tác bền bỉ.
Thứ hai: Từ ký kết sang triển khai. Biên bản ghi nhớ chỉ là điểm xuất phát. Giá trị nằm ở các chương trình đào tạo chung, đề tài nghiên cứu chung, trao đổi giảng viên và sinh viên, công nhận tín chỉ trên thực tế.
Thứ ba: Từ hoạt động riêng lẻ sang chiến lược tổng thể. Mỗi trường cần xác định rõ cần hợp tác quốc tế để giải quyết vấn đề gì, đối tác nào phù hợp nhất và kết quả cụ thể cần tạo ra.
Thứ tư: Từ tiếp nhận thụ động sang hợp tác bình đẳng, cùng kiến tạo, cùng chịu trách nhiệm về kết quả. Hợp tác không có nghĩa là sao chép mô hình bên ngoài hay làm mờ bản sắc của từng trường, từng tổ chức. Tinh thần hợp tác là giữ bản sắc địa phương, mang tư duy toàn cầu.
Thứ năm: Từ hợp tác song phương đơn lẻ sang hệ sinh thái. Cần gắn nhà trường với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và xã hội, cùng các chuẩn mực chung về kiểm định, công nhận văn bằng, tạo dựng và sử dụng dữ liệu lớn và AI có trách nhiệm.
PV: Bộ Giáo dục và đào tạo sẽ có những hỗ trợ gì để các cơ sở giáo dục Đại học làm tốt hơn, hiệu quả hơn các hoạt động hợp tác quốc tế , thưa bà ?
PGS.TS Nguyễn Thu Thủy:
Về phía quản lý nhà nước, Bộ GD-ĐT tạo hành lang thuận lợi hơn, thủ tục gọn hơn, trao quyền tự chủ đi cùng công khai và trách nhiệm giải trình. Chúng ta cũng cần nhìn nhận khách quan rằng năng lực hội nhập giữa các trường hiện nay chưa đồng đều, do vậy, cần tiếp tục bồi dưỡng căn bản đội ngũ làm hợp tác quốc tế ở các cơ sở.
Hội nghị lần này với sự tham gia của các trường đại học hàng đầu, các doanh nghiệp công nghệ và các tổ chức quốc tế, là cơ hội để chuyển các cam kết thành chương trình hợp tác cụ thể. Bộ GD-ĐT cam kết đồng hành cùng các đối tác để đưa các sáng kiến thành kết quả thực tiễn.
PV: Xin cảm ơn Cục trưởng !
