Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) vừa công bố Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA 2025.
Bộ GD-ĐT cho biết, trong chu kỳ đánh giá này, 7.353 học sinh Việt Nam thuộc 194 trường hoàn thành khảo sát, trong đó trên 98% học sinh tham gia khảo sát học theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2006 cấp trung học cơ sở).
Số học sinh tham gia khảo sát đại diện cho trên 1,1 triệu học sinh 15 tuổi, tương đương 71% tổng số người 15 tuổi. Khoa học là lĩnh vực trọng tâm; Toán và Đọc hiểu là các lĩnh vực phụ. Chu kỳ này cũng đánh giá khả năng giải quyết vấn đề bằng máy tính trong khuôn khổ học tập trong thế giới số.
Kết quả, học sinh Việt Nam đạt trung bình 457 điểm Khoa học, 443 điểm Toán, 392 điểm Đọc hiểu và 461 điểm Giải quyết vấn đề bằng máy tính.
Khoa học là lĩnh vực có kết quả tương đối tích cực: 71% học sinh đạt từ Mức 2 trở lên, gần mức 74% của OECD. Ở Toán, tỷ lệ này là 58%, so với 65% của OECD.
Theo quy định của chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA, Mức 2 được xem là mức năng lực cơ bản. Ở mức này, học sinh bắt đầu có thể dùng kiến thức và thông tin để xử lý những tình huống quen thuộc trong thực tế.
Với Đọc hiểu, chỉ 41% học sinh Việt Nam đạt từ Mức 2 trở lên, trong khi trung bình OECD là 69%. Nói cách khác, khoảng 59% học sinh Việt Nam chưa đạt mức đọc hiểu cơ bản theo cách đánh giá của PISA.
Số học sinh đạt mức năng lực cao cũng còn ít. Tỷ lệ đạt Mức 5 hoặc Mức 6 ở Khoa học là 2%, Toán là 4% và Đọc hiểu gần 0%. Trung bình OECD lần lượt là 7%, 8% và 6%.
Những con số này đặt giáo dục Việt Nam trước hai yêu cầu song hành: nâng mặt bằng năng lực tối thiểu cho số đông, nhất là Đọc hiểu, đồng thời tạo điều kiện để phát triển nhóm học sinh có năng lực ở mức cao.
Cũng theo đánh giá của PISA, khoảng 31% học sinh Việt Nam nằm trong nhóm có điều kiện kinh tế - xã hội thấp nhất nếu so trên thang quốc tế. Có thể hiểu đây là nhóm gặp nhiều khó khăn hơn về điều kiện gia đình và nguồn lực hỗ trợ việc học. Dù vậy, nhóm này đạt trung bình 425 điểm Khoa học, được OECD ghi nhận là một trong những kết quả cao khi so với học sinh có hoàn cảnh tương tự ở các nước khác.
Tuy nhiên, cơ hội học tập vẫn chưa đồng đều. Nhóm học sinh có điều kiện thuận lợi nhất cao hơn nhóm khó khăn nhất 87 điểm Khoa học, gần bằng khoảng cách trung bình OECD là 86 điểm. Điều này cho thấy hoàn cảnh gia đình vẫn ảnh hưởng đáng kể đến kết quả học tập. Hỗ trợ học sinh khó khăn vì thế cần tiếp tục là một ưu tiên.
Bộ GD-ĐT cho biết, đây cũng là chu kỳ đánh giá được tổ chức trên máy tính so với trước đó làm bài trên giấy. Hai cách làm bài có những khác biệt nhất định. Ví dụ bài khảo sát ở lĩnh vực Đọc hiểu yêu cầu học sinh đọc văn bản số và văn bản đa phương thức; điều hướng giữa nhiều màn hình hoặc nguồn thông tin; đọc bảng, biểu đồ và dữ liệu động; xử lý lượng thông tin lớn hơn; quản lý thời gian trên môi trường số; sử dụng chuột, bàn phím và các thao tác số thành thạo; duy trì sự tập trung trong môi trường số.
Vì vậy, Bộ GD-ĐT cho rằng chưa nên lấy chênh lệch điểm giữa PISA 2025 và các kỳ trước để kết luận chất lượng giáo dục Việt Nam tăng hay giảm.
PISA là Chương trình đánh giá học sinh quốc tế do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) tổ chức, dành cho học sinh 15 tuổi. PISA không chỉ đánh giá học sinh ghi nhớ kiến thức mà tập trung xem các em có khả năng vận dụng những điều đã học để giải quyết các vấn đề trong học tập và cuộc sống hay không.
PISA 2025 có 91 quốc gia và nền kinh tế tham gia, với khoảng 765.000 học sinh.
Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA 2025 cũng công bố một số chỉ số đáng chú ý khác, như: 82% cho biết tò mò về nhiều vấn đề; 79% cố gắng hơn khi nhiệm vụ trở nên khó; chỉ 12% cho rằng đi học là lãng phí thời gian. Có 87% học sinh tìm kiếm sự hỗ trợ của giáo viên khi cần và 90% hỏi bạn khi chưa hiểu.
Sự hỗ trợ của giáo viên là một lợi thế rõ nét. Có 90% học sinh cho biết giáo viên Khoa học quan tâm đến việc học của từng em; 85% cho biết giáo viên tiếp tục giảng đến khi học sinh hiểu và 89% nhận được hỗ trợ thêm khi cần. Các tỷ lệ tương ứng của OECD lần lượt là 69%, 69% và 73%.
Mức độ chuyên cần cũng tích cực hơn trung bình OECD. Trong hai tuần trước khảo sát, 4% học sinh nghỉ ít nhất một ngày không phép, 9% bỏ ít nhất một tiết và 32% đi học muộn; thấp hơn các mức tương ứng của OECD là 22%, 24% và 50%.
Khoảng 52% học sinh tin rằng năng lực của mình có thể tiến bộ nhờ cố gắng và được hướng dẫn đúng cách; tỷ lệ thường xuyên lập kế hoạch học tập cũng ở mức tương tự. Vì vậy, bên cạnh kiến thức, nhà trường cần quan tâm hơn đến kỹ năng tự học và sự tự tin của học sinh cũng như an toàn học đường.
Học sinh Việt Nam dành trung bình 2,2 giờ mỗi ngày sử dụng thiết bị số tại trường cho hoạt động học tập, cao hơn mức 1,7 giờ của OECD. Đồng thời, các em dành khoảng 1,5 giờ mỗi ngày cho hoạt động không phục vụ học tập, so với 1,1 giờ của OECD.
Việc sử dụng AI đã trở nên phổ biến: 94% học sinh dùng chatbot AI để hỗ trợ học tập; 82% dùng AI để nghiên cứu sơ bộ một chủ đề mới; 86% dùng để tóm tắt văn bản và 88% dùng để soạn thảo văn bản cho bài tập. Trong khi đó, khoảng 70% học sinh cho biết đã được học cách đánh giá nội dung do AI tạo ra.
