Giảm đầu mối chỉ có ý nghĩa khi chất lượng và hiệu quả tăng lên

Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, chủ trương sắp xếp, sáp nhập các cơ sở giáo dục đại học đang được đặt ra trong yêu cầu đổi mới và nâng cao hiệu quả hệ thống. Tuy nhiên, điều cốt lõi trước hết phải xác định rất rõ mục tiêu cuối cùng của công cuộc sắp xếp, sáp nhập phải là nâng cao chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu - đổi mới sáng tạo, hiệu quả sử dụng nguồn lực và sức cạnh tranh của đại học Việt Nam. Nếu chỉ nhìn sáp nhập như một phép giảm số lượng đầu mối hành chính thì chúng ta mới giải quyết được phần “vỏ”, chưa chạm đến phần “lõi” của bài toán.

GS Nguyễn Đình Đức phân tích: Hiện nay một hạn chế của hệ thống là nguồn lực còn phân tán: có nơi quy mô nhỏ, ngành đào tạo trùng lặp, phòng thí nghiệm và đội ngũ nghiên cứu bị chia cắt, trong khi các bài toán khoa học - công nghệ ngày càng liên ngành và đòi hỏi đầu tư lớn. Vì vậy, sắp xếp lại mạng lưới phải hướng tới việc hình thành những cơ sở có đủ quy mô học thuật, đủ năng lực quản trị và đủ nguồn lực để tạo ra các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm dùng chung, chương trình đào tạo liên ngành và các trung tâm đổi mới sáng tạo có tầm vóc.

GS cho rằng mỗi phương án sáp nhập cần trả lời được bốn câu hỏi rất cụ thể: sau sáp nhập, chất lượng đào tạo và nghiên cứu có tăng không; nguồn lực có được tập trung và sử dụng hiệu quả hơn không; bộ máy quản trị có thực sự tinh gọn và ra quyết định nhanh hơn không; văn hóa của tổ chức có hòa hợp được và tốt hơn lên không. Nếu không trả lời được bốn câu hỏi ấy bằng các chỉ tiêu đo lường được, rất dễ rơi vào tình trạng “to hơn về quy mô nhưng chưa mạnh hơn về năng lực”.

Trong bối cảnh Nghị quyết 221/NQ-CP đặt ra yêu cầu giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập, điều quan trọng là không biến chỉ tiêu về đầu mối thành thước đo duy nhất của thành công. Giảm đầu mối là cần thiết, nhưng thước đo cuối cùng vẫn phải là chất lượng và hiệu quả.

Mô hình quản trị nào phù hợp với giáo dục ĐH Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có một mô hình sáp nhập duy nhất phù hợp với mọi trường đại học. Điều đáng học nhất không phải là “gộp bao nhiêu trường”, mà là cách họ xác định mục tiêu chiến lược trước khi thiết kế mô hình tổ chức.

Một ví dụ đáng tham khảo là Đại học Aalto của Phần Lan. Năm 2010, ba cơ sở có thế mạnh rất khác nhau về công nghệ, kinh tế và nghệ thuật - thiết kế được hợp nhất không phải để tạo ra một trường “đông hơn”, mà để hình thành một đại học đổi mới sáng tạo dựa trên giao thoa liên ngành. Điều quan trọng là họ có một tầm nhìn mới, một cơ chế quản trị mới và những không gian học thuật mới, chứ không đơn thuần ghép ba bộ máy cũ lại với nhau.

Với Việt Nam, GS Đức cho rằng nên áp dụng tư duy phân loại, không nên dùng một công thức cho tất cả. Những trường có quy mô nhỏ, năng lực hạn chế, ngành nghề trùng lặp và cùng địa bàn có thể xem xét hợp nhất sâu. Những trường đã có thương hiệu, thế mạnh đặc thù và năng lực học thuật tốt có thể tổ chức theo mô hình đại học đa lĩnh vực hoặc hệ thống đại học, trong đó thống nhất chiến lược, dữ liệu, chuẩn chất lượng và các dịch vụ dùng chung nhưng vẫn phân quyền mạnh cho các trường, khoa, viện về chuyên môn học thuật.

Mô hình phù hợp, theo GS Nguyễn Đình Đức là “một chiến lược - một hệ thống quản trị - một chuẩn chất lượng, nhưng nhiều trung tâm học thuật có quyền chủ động”. Tập trung những gì cần tập trung để tạo sức mạnh tổng hợp; phân quyền những gì cần phân quyền để nuôi dưỡng sáng tạo.

Sau sáp nhập quy mô tăng nhưng chất lượng có tăng?

GS Nguyễn Đình Đức bày tỏ sự lo ngại chất lượng các cơ sở giáo dục ĐH sau sáp nhập. Theo ông: Sáp nhập về pháp lý và tổ chức là phần dễ nhìn thấy nhất; khó hơn nhiều là tích hợp chiến lược, văn hóa, hệ thống quản trị, dữ liệu, tài chính, nhân sự và đặc biệt là tạo ra sự cộng hưởng về học thuật. Nếu sau sáp nhập, mỗi đơn vị vẫn vận hành như cũ, vẫn có những “biên giới” riêng về nguồn lực, chương trình và nghiên cứu, thì thực chất chúng ta chỉ đặt nhiều đơn vị dưới một cái tên mới.

Điều kiện tiên quyết là phải có một đề án phát triển sau sáp nhập, chứ không chỉ có một đề án sáp nhập. Đề án đó phải trả lời rõ: trường mới muốn trở thành đại học gì trong 5-10 năm tới; những lĩnh vực nào được đầu tư trọng điểm; ngành nào cần tích hợp, ngành nào cần giữ; phòng thí nghiệm nào dùng chung; cơ chế tuyển dụng và đãi ngộ ra sao; hệ thống dữ liệu, tài chính và bảo đảm chất lượng được thống nhất thế nào; và quan trọng nhất, kết quả đầu ra nào sẽ chứng minh rằng trường mới tốt hơn trước.

Cùng với đó cần có nguồn lực chuyển đổi đủ mạnh. Sáp nhập không phải là biện pháp tiết kiệm ngay lập tức. Trong vài năm đầu, chi phí tích hợp hệ thống, đầu tư hạ tầng, số hóa dữ liệu, tái cấu trúc chương trình và xây dựng văn hóa chung có thể tăng. Nếu chỉ yêu cầu sáp nhập mà không có nguồn lực cho tái cấu trúc, nguy cơ “cộng cơ học” là rất lớn.

GS phân tích: Không thể kỳ vọng 1 + 1 > 2 nếu sau sáp nhập vẫn là hai bộ máy, hai cơ chế và hai văn hóa cùng tồn tại dưới một mái nhà. Giá trị mới chỉ xuất hiện khi hình thành được năng lực mới mà từng trường riêng lẻ trước đó không thể tạo ra.

Bản sắc và thế mạnh riêng của từng trường sau sáp nhập.

Theo GS Nguyễn Đình Đức, bản sắc và thương hiệu tốt không phải là vật cản của sáp nhập mà là một loại tài sản vô hình rất quý. Sáp nhập thông minh không phải là xóa mọi khác biệt để tạo ra sự đồng nhất, mà là đặt những thế mạnh khác nhau vào một cấu trúc có khả năng cộng hưởng. Một đại học mạnh trên thế giới thường chính là một “hệ sinh thái của những khác biệt”: các trường thành viên, khoa, viện, phòng thí nghiệm có lịch sử và bản sắc riêng nhưng cùng chia sẻ một chiến lược chung.

Theo GS Nguyễn Đình Đức: Sáp nhập nên dựa vào nguyên tắc: cái gì đang tốt thì phải làm cho tốt hơn; cái gì trùng lặp, kém hiệu quả thì mạnh dạn tái cấu trúc. Sáp nhập không nên làm mất đi những “đỉnh cao” đã hình thành, mà phải tạo một nền tảng lớn hơn để các đỉnh cao ấy phát triển.

Sau sáp nhập những nút thắt của các trường có được tháo gỡ?

Giáo sư Nguyễn Đình Đức cho rằng điểm nghẽn lớn trong tự chủ đại học thời gian qua là tự chủ chưa phải lúc nào cũng đồng bộ giữa chuyên môn học thuật, tổ chức - nhân sự, tài chính, tài sản và đầu tư. Có nơi tự chủ được hiểu thiên về tự chủ tài chính, trong khi bản chất của đại học là phải có quyền chủ động học thuật và quyền tổ chức nguồn lực để thực hiện sứ mạng.

Luật Giáo dục đại học 2025 đã xác định quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình trên các mặt chuyên môn, đào tạo, nghiên cứu, hợp tác quốc tế, tổ chức, nhân sự và tài chính; Nghị quyết 71-NQ/TW cũng nhấn mạnh bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính. Đây là nền tảng rất quan trọng và phải đảm bảo tự chủ khi ĐH sáp nhập.

Theo GS Nguyễn Đình Đức: bước tiếp theo phải chuyển mạnh từ cơ chế “xin - cho, phê duyệt trước” sang giao quyền đi đôi với kiểm soát bằng chuẩn, dữ liệu và kết quả đầu ra. Nhà nước quy định rõ chuẩn chất lượng, các giới hạn trách nhiệm và cơ chế kiểm tra; còn trường phải được chủ động hơn trong tuyển dụng và đãi ngộ nhân tài, tổ chức bộ máy, sử dụng nguồn lực, đầu tư phòng thí nghiệm, hợp tác với doanh nghiệp và quốc tế.

Sau sáp nhập, càng cần thiết lập một hệ thống quản trị thống nhất, minh bạch và số hóa, với phân quyền rõ đến các đơn vị học thuật. Nếu một trường sau sáp nhập lớn gấp đôi nhưng một quyết định tuyển nhà khoa học, mua thiết bị nghiên cứu hay triển khai dự án lại phải đi qua nhiều tầng hơn trước thì đó là dấu hiệu sáp nhập chưa đạt mục tiêu. Tự chủ phải làm cho trường lớn lên nhưng vẫn nhanh, linh hoạt và có trách nhiệm.

Sắp xếp sử dụng phát huy đội ngũ giảng viên thế nào để giữ chân được người giỏi

GS Nguyễn Đình Đức cho rằng: Trong đại học, tài sản quan trọng nhất không phải là tòa nhà mà là con người. Vì vậy, tôi cho rằng quản trị nhân sự phải là một trong những nội dung được chuẩn bị sớm nhất khi sáp nhập. Nếu làm không tốt, những người giỏi thường là những người có nhiều lựa chọn nhất và cũng có thể là những người rời đi sớm nhất.

Trước hết phải có nguyên tắc minh bạch, công bằng và dựa trên năng lực. Sắp xếp nhân sự không nên theo tư duy cơ học kiểu “mỗi bên giữ một nửa vị trí”, mà phải dựa trên vị trí việc làm, thành tích, năng lực lãnh đạo, đóng góp học thuật và yêu cầu của chiến lược mới. Cần chuyển từ “xếp con người vào sơ đồ” sang “thiết kế công việc để phát huy con người”.

Đối với giảng viên và nhà khoa học, cần bảo đảm môi trường học thuật ổn định trong quá trình chuyển đổi; duy trì các nhóm nghiên cứu mạnh; có quỹ nghiên cứu cạnh tranh, cơ chế giao quyền chủ trì, chính sách thu nhập và đãi ngộ theo hiệu quả; mở rộng cơ hội tiếp cận phòng thí nghiệm, dữ liệu và mạng lưới hợp tác. Sáp nhập cũng phải tạo ra lộ trình nghề nghiệp rộng hơn: một nhà khoa học giỏi phải nhìn thấy sau sáp nhập mình có nhiều cơ hội hơn chứ không phải nhiều thủ tục hơn.

Đồng thời cần phân biệt rất rõ tinh gọn bộ máy hành chính với phát triển năng lực học thuật. Có thể giảm đầu mối quản trị trùng lặp, nhưng không thể đồng nhất tinh giản hành chính với tinh giản giảng viên, nhà khoa học giỏi. Ngược lại, phần nguồn lực tiết kiệm được từ bộ máy cần được tái đầu tư cho con người, nghiên cứu, phòng thí nghiệm và chất lượng đào tạo.

Một cuộc sáp nhập thành công phải giữ được người giỏi, thu hút thêm người giỏi và tạo điều kiện để người giỏi làm được những việc lớn hơn trước. Tinh gọn bộ máy hành chính không được đồng nghĩa với tinh giản năng lực học thuật.

Một vấn đề xã hội rất quan tâm là quyền lợi của người học. Khi các trường sáp nhập, cần có cơ chế như thế nào để bảo đảm sinh viên đang theo học không bị xáo trộn chương trình, học phí, văn bằng, địa điểm học tập và cơ hội việc làm.

Theo Giáo sư Nguyễn Đình Đức, nguyên tắc quan trọng nhất là người học không thể trở thành bên phải gánh chi phí của quá trình chuyển đổi tổ chức. Những thay đổi về cơ cấu quản trị là trách nhiệm của nhà trường và cơ quan quản lý; quyền lợi hợp pháp, chính đáng của sinh viên đang theo học phải được bảo đảm liên tục.

Diện mạo của hệ thống đại học Việt Nam sẽ thay đổi như thế nào trong 5-10 năm tới

GS Nguyễn Đình Đức kỳ vọng: Nếu làm tốt, sau 5-10 năm chúng ta sẽ có một hệ thống đại học ít phân tán hơn nhưng mạnh hơn, sẽ có những đại học tinh hoa, trong đó mỗi cơ sở có sứ mạng rõ ràng và có quy mô, tiềm lực đủ để thực hiện sứ mạng ấy.

Sẽ không phải tất cả các trường đều chạy theo một mô hình. Sẽ có những đại học nghiên cứu dẫn dắt khoa học - công nghệ và đào tạo nhân tài; những đại học ứng dụng gắn chặt với doanh nghiệp; những đại học vùng trở thành hạt nhân tri thức và đổi mới sáng tạo của địa phương; đồng thời phát triển một số cơ sở tinh hoa có năng lực cạnh tranh quốc tế.

"Nếu tái cấu trúc tốt, thứ hạng quốc tế có thể được cải thiện, nhưng tôi cho rằng xếp hạng chỉ nên là hệ quả, không phải mục tiêu duy nhất. Thành công thực sự phải thể hiện ở chất lượng nhân lực, các công trình có ảnh hưởng, sáng chế và công nghệ được chuyển giao, doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học, khả năng thu hút nhân tài và đóng góp của trường đại học vào năng lực cạnh tranh quốc gia".

Với các cơ sở giáo dục ĐH đứng trước khả năng sáp nhập, thông điệp GS Nguyễn Đình Đức muốn nhấn mạnh là: đừng bắt đầu việc sáp nhập từ sơ đồ tổ chức, hãy bắt đầu từ sứ mạng và chiến lược phát triển. Biển tên có thể thay trong vài ngày, cơ cấu có thể ban hành bằng một quyết định, nhưng để hình thành một đại học mạnh cần nhiều năm xây dựng văn hóa học thuật, cơ chế quản trị và niềm tin của đội ngũ.

Theo GS Nguyễn Đình Đức: Sáp nhập các cơ sở giáo dục ĐH là cơ hội rất lớn để đổi mới đại học Việt Nam. Một quá trình sắp xếp nếu được thực hiện quyết liệt nhưng khoa học, minh bạch, có lộ trình, đặt chất lượng lên trên lợi ích cục bộ và trao đủ quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, có thể tạo ra những đại học mới mạnh hơn nhiều so với tổng số học cơ học của các đơn vị cũ.

Vì vậy, điều cần hướng tới không phải là “một trường đại học lớn hơn”, mà là “một đại học tốt hơn, mạnh hơn”.

Làm tốt việc sáp nhập, đại học Việt Nam sẽ thực sự chuyển từ nơi chủ yếu cấp bằng sang những trung tâm sáng tạo tri thức, công nghệ và nhân tài. Đại học Việt Nam sẽ thực sự trở thành nòng cốt trong việc thực hiện sứ mệnh dẫn dắt quốc gia đổi mới sáng tạo, hướng tới giàu mạnh, tự chủ và thịnh vượng.