Thông tin về Nghị định 179/2026/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành, GS Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH, Bộ GD-ĐT nhấn mạnh đây là chính sách đầu tiên hỗ trợ trực tiếp người học thay vì thông qua các cơ sở giáo dục đại học.

Năm 2026 có khoảng 30.000 - 32.000 người nhận học bổng

Thí sinh trúng tuyển các ngành Khoa học cơ bản, Kỹ thuật then chốt và Công nghệ chiến lược thuộc danh mục quy định có cơ hội nhận học bổng phải thuộc diện tuyển thẳng hoặc xét tuyển bằng tổ hợp gồm Toán và 2 trong các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học và Tiếng Anh.

Điểm xét tuyển căn cứ vào kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT, với ngưỡng tối thiểu từ 22,5 điểm trở lên (theo thang điểm 30 không bao gồm điểm ưu tiên) và thuộc nhóm 30% thí sinh có điểm đầu vào cao nhất trên phạm vi toàn quốc theo từng ngành đào tạo.

GS Nguyễn Tiến Thảo cho biết, ngày 26/6/2026, Bộ trưởng đã ký Quyết định số 1826 phê duyệt danh mục 109 ngành đào tạo nhằm cụ thể hóa 15 nhóm ngành thuộc lĩnh vực công nghệ chiến lược, kỹ thuật then chốt và khoa học cơ bản. Đây là căn cứ để các cơ sở giáo dục đại học xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức truyền thông, quảng bá. Đồng thời giúp thí sinh thực hiện đăng ký, điều chỉnh nguyện vọng theo danh mục này trong ngày 2/7 tới.

Với Nghị định số 179, mức học bổng dành cho nhóm chương trình tài năng ở cả ba trình độ (ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ) từ 5,5 triệu đồng - 8,4 triệu đồng. Đối với nhóm ngành khoa học cơ bản, mức học bổng từ 3,7 triệu đồng - 5,4 triệu đồng. Học bổng sẽ được cấp cho người học trong toàn bộ thời gian đào tạo nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.

Đáng chú ý, chính sách không chỉ áp dụng với các thí sinh trúng tuyển năm 2026, đối với các chương trình đào tạo đã tuyển sinh từ năm 2025, có khoảng 22.250 sinh viên đủ điều kiện nhận học bổng, bắt đầu từ 1/9 năm nay.

Năm 2026, số người nhận học bổng dự kiến tăng lên khoảng 30.000–32.000 người học ở cả ba trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. Tổng kinh phí học bổng dành cho khóa tuyển sinh năm 2025 ước khoảng 350 tỷ đồng (học bổng 4 tháng năm 2025). Đối với khóa tuyển sinh năm 2026, quy mô kinh phí dự kiến cao hơn.

Học bổng được duy trì hằng năm trên cơ sở kết quả học tập của người học. Toàn bộ quá trình xét tuyển, xác định đối tượng, xét cấp học bổng, quản lý và theo dõi kết quả học tập sẽ được thực hiện đồng bộ trên nền tảng số. Hệ thống này đồng thời phục vụ công tác tuyển sinh, dự báo nhu cầu nhân lực, quản lý kết quả học tập và cấp học bổng.

Về lâu dài nền tảng hướng tới xây dựng hệ thống quản trị nhân lực quốc gia, theo dõi quá trình học tập, tốt nghiệp, việc làm và thu nhập của người học thuộc các ngành STEM, qua đó cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách.

GS Nguyễn Tiến Thảo đánh giá, chính sách này không chỉ góp phần thu hút nguồn tuyển mà còn tạo điều kiện hỗ trợ tài chính cho người học, đặc biệt là học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nhưng có năng lực học tập tốt, giúp các em có thêm cơ hội theo đuổi các ngành STEM. Qua đó, kỳ vọng sau 3 đến 5 năm sẽ góp phần nâng tỷ lệ người học STEM đạt mục tiêu 35% theo định hướng đã đề ra.

Đẩy mạnh quy mô đào tạo các ngành STEM

Thống kê từ Hệ thống Quản trị giáo dục đại học cho thấy, quy mô, lĩnh vực, số lượt ngành đào tạo tăng đồng thời ở 3 trình độ ĐH, thạc sỹ, tiến sĩ. So với năm 2025, tổng chỉ tiêu năm 2026 dự kiến tăng khoảng 13%. Riêng lĩnh vực STEM tăng khoảng 15%. Đối với 15 nhóm ngành thuộc lĩnh vực công nghệ chiến lược, kỹ thuật then chốt và khoa học cơ bản, tổng chỉ tiêu năm 2026 dự kiến đạt khoảng 166.000 - 167.000 người học ở cả ba trình độ.

Đối với các chương trình đào tạo tài năng, năm 2026 sẽ tiếp tục tuyển sinh với quy mô khoảng 48.000 - 49.000 người học, bao gồm cả các chương trình đào tạo nhân lực ngành bán dẫn.

“Xét trên toàn bộ hệ thống, quy mô ở cả ba trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ đều tăng. Với việc mở ra dư địa mới, hy vọng trong bức tranh tuyển sinh 2026, sinh viên theo học nhóm ngành này sẽ cao hơn”, GS Nguyễn Tiến Thảo nói.

Trong thời gian tới, bên cạnh việc tiếp tục triển khai các đề án đã được phê duyệt, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ ban hành quy chế tuyển sinh và đào tạo đối với các chương trình đặc thù như chương trình tài năng, chương trình đào tạo nhân lực ngành bán dẫn và các chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng, nhằm bảo đảm sự thống nhất trong toàn hệ thống. Đồng thời, Bộ sẽ tăng cường theo dõi, kiểm tra quá trình tổ chức đào tạo và đánh giá kết quả đầu ra của các cơ sở đào tạo.

8 nhóm đào tạo STEM bao gồm: Khoa học sự sống, Khoa học tự nhiên, Toán và Thống kê, Máy tính và Công nghệ thông tin, Công nghệ kỹ thuật, Kỹ thuật, Sản xuất và chế biến, Kiến trúc và xây dựng.

Hiện nay, cả nước có khoảng 771.000 người học trong các lĩnh vực STEM, trên tổng quy mô hơn 2,7 triệu người học ở trình độ đại học và sau đại học, chiếm khoảng 29%. So với một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, châu Âu và Bắc Mỹ, tỷ lệ người học STEM ở Việt Nam xếp mức trung bình. Nghị quyết số 71 đặt mục tiêu tỷ lệ người học STEM ở bậc đại học của Việt Nam phấn đấu đạt 35% vào năm 2030.

Hiện, Bộ GD-ĐT phối hợp với các bộ, ngành liên quan triển khai 4 đề án trọng điểm nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm:

Đề án 1002/2025/QĐ-TTg Đào tạo nhân lực chất lượng cao, trong đó có đào tạo cử nhân STEM và khoảng 10.000 kỹ sư tài năng trong thời gian tới. Đề án bao phủ các trình độ từ đại học đến sau đại học, với trọng tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đề án 1017/2024/QĐ-TTg Đào tạo nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn

Đề án 1012/2025/QĐ-TTg Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực điện hạt nhân đến năm 2035

Đề án 2230/2025/QĐ-TTg Đào tạo phát triển nhân lực đường sắt Việt Nam

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt 90 chương trình đào tạo tài năng tại hơn 23 cơ sở giáo dục đại học. Các chương trình này sẽ tuyển sinh từ năm 2026 với quy mô dự kiến gần 40.000 người học.

GS Nguyễn Tiến Thảo cho biết, điểm khác biệt của mô hình đào tạo trong lĩnh vực khoa học và công nghệ so với đào tạo truyền thống là sinh viên theo học các chương trình tài năng sẽ được gắn kết chặt chẽ với hoạt động nghiên cứu khoa học và tham gia các diễn đàn, chương trình học thuật ngay trong quá trình đào tạo./.