Khi nhân tài trở về

Từng là thủ khoa đầu vào Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, sau 6 tháng học tập, Lê Viết Hương nhận học bổng toàn phần của Chính phủ và sang Pháp học chương trình kỹ sư tại Học viện Khoa học Ứng dụng Quốc gia Lyon.

Năm 2015, anh tốt nghiệp thủ khoa cùng lúc 2 chương trình đào tạo kỹ sư và thạc sĩ nghiên cứu tại Viện khoa học ứng dụng quốc gia Lyon (INSA de Lyon, Pháp). Anh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Đại học Grenoble Alpes (UGA) . Công trình nghiên cứu của anh tại đây được Hội Hóa học Pháp vinh danh là “Luận án xuất sắc” năm 2019.

9 năm học tập và nghiên cứu ở Pháp, dù đang là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ (postdoc) và nhận được nhiều lời mời làm việc tại các viện nghiên cứu ở châu Âu, anh vẫn quyết định trở về Việt Nam. Lý do chỉ đơn giản là: “mỗi người xa quê ai cũng muốn trở về”.

Trong lĩnh vực Khoa học vật liệu, lực lượng nghiên cứu khoa học ở Việt Nam còn tương đối “mỏng” so với các nước tiên tiến như Pháp, Hàn Quốc…

“Nếu mình ở nước ngoài, tiếp tục cố gắng phấn đấu thì giá trị đóng góp nôm na như “muối bỏ bể”. Tuy nhiên, sự cố gắng này đặt ở Việt Nam có thể mang lại nhiều lợi ích về lâu dài dù nhiều khó khăn phía trước”, TS. Lê Viết Hương nói.

Trở về Việt Nam, ở tuổi 36, TS Lê Viết Hương hiện là Phó Trưởng khoa Khoa học và Kỹ thuật Vật liệu, Trường Đại học Phenikaa. Anh tập trung phát triển các hướng nghiên cứu mang tính ứng dụng và liên ngành, hướng tới năng lượng bền vững và công nghệ điện tử thế hệ mới.

Cùng lựa chọn trở về Việt Nam là GS Phan Mạnh Hưởng, nhà khoa học thuộc top 1% thế giới về Vật lý và Khoa học vật liệu. Năm 2025, ông đảm nhận vai trò Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Công nghệ vật liệu, VinUni, đồng thời vẫn là giáo sư tại Đại học Nam Florida, Mỹ.

Với GS. Hưởng, nhà khoa học hàng đầu thế giới, trở về không chỉ để làm việc, mà còn để giúp kết nối nguồn lực khoa học Việt Nam trong và ngoài nước.

“Trí thức Việt kiều là cái tài sản quý báu của quốc gia, nếu không khai thác tài sản này là điều thiệt thòi. Phải làm sao tạo sân chơi cho người Việt có khả năng phát huy tối đa năng lực của mình cũng như kết nối với người Việt ở nước ngoài nhằm chuyển giao kiến thức, công nghệ”.

Chỉ trong một thời gian ngắn, Trung tâm đã thu hút nhiều nhà học hàng đầu cả trong và ngoài nước. Trong số đó, có nhiều nhà khoa học thuộc top 2% thế giới và đạt giải thưởng Khoa học Công nghệ Quả Cầu Vàng.

Với khoa học, việc hợp tác xuyên biên giới là bình thường. Một nhà khoa học ở nước ngoài vẫn có thể chuyển giao công nghệ, tham gia nghiên cứu hoặc đào tạo nhân lực tại Việt Nam. Còn với những người lựa chọn trở về, theo GS. Hưởng, họ cần chuẩn bị tâm thế để đồng hành với một đất nước đang trong quá trình chuyển đổi.

“Khi trở về, chúng ta phải hiểu rằng Việt Nam còn rất nhiều thứ cần điều chỉnh để phù hợp. Các bạn về thì phải yêu được tất cả những gì chưa đẹp đẽ nhất ở đất nước này. Còn nếu tự ái thì chắc chắn không thể giúp được gì cho Việt Nam đâu”, GS. Phan Mạnh Hưởng chia sẻ.

Ông cho rằng sự thay đổi phải bắt đầu từ văn hóa làm việc, văn hóa hợp tác và tinh thần đoàn kết giữa các nhà học trong từng đơn vị cũng như giữa các đơn vị với nhau.

Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đóng vai trò then chốt, là động lực chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm trọng dụng và thu hút nhân tài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.

Tại Nghị quyết số 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Bộ Chính trị đều đặt việc thu hút và trọng dụng nhân tài làm khâu đột phá chiến lược để phát triển đất nước.

Đặc biệt, vào tháng 8/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, ngành liên quan khẩn trương xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách đãi ngộ đặc biệt để thu hút ít nhất 100 chuyên gia hàng đầu về nước làm việc.

Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nhiệm vụ triển khai Chiến lược thu hút nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn 2050, hoàn thành vào tháng 9/2025.

Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (Trường ĐH Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội), chính sách của Đảng và Nhà nước đang tạo ra một luồng gió mới và động lực phát triển cho các cơ sở giáo dục đại học.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, nhân tài và người giỏi là hai khái niệm khác nhau. Người giỏi có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyên môn. Còn nhân tài, bên cạnh chuyên môn xuất sắc, phải có khả năng dẫn dắt, có tầm nhìn, có năng lực tổ chức nhóm nghiên cứu, tạo tác động xã hội và đào tạo đội ngũ kế cận.

“Chọn người giỏi không khó nhưng chọn nhân tài theo đúng nghĩa là vấn đề phải cân nhắc chứ không thể vội được”, ông Đức cho hay.

Nhân tài cần được đối xử công bằng

Để nhân tài trở về, trước hết phải tạo được một môi trường đủ sức hấp dẫn. Tại Trường Đại học Phenikaa, trong 6 năm qua, hơn 200 tiến sĩ từ nước ngoài đã về công tác. Theo PGS.TS Nguyễn Phú Khánh, Phó Tổng Giám đốc Đại học Phenikaa, một trong những yếu tố quan trọng là xây dựng các nhóm nghiên cứu để nhà khoa học không làm việc “đơn độc”.

Ở ĐH Phenikaa, những nhóm nghiên cứu mạnh hoặc tiềm năng được hình thành. Nhà trường hỗ trợ học phí hoặc học bổng dành cho postdoc, nghiên cứu sinh, học viên cao học tham gia vào nhóm.

Ngoài kinh phí từ các đề tài cấp trường, Quỹ Đổi mới sáng tạo cùng cơ sở vật chất tốt nhất phục vụ hoạt động nghiên cứu trở thành “hệ sinh thái” tiềm năng thu hút người tài.

Không chỉ các trường đại học tư, nhiều trường đại học công lập cũng đang xây dựng chính sách riêng để thu hút nhân lực chất lượng cao. Trong 10 nhóm công nghệ chiến lược được Chính phủ xác định, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh lựa chọn 6 lĩnh vực ưu tiên.

Nhà trường tập trung thu hút ba nhóm nhà khoa học gồm: Các nhà khoa học đầu ngành, có kinh nghiệm trong các lĩnh vực mũi nhọn về làm việc toàn thời gian; Nhà khoa học trẻ tiềm năng, được đào tạo bài bản ở nước ngoài; Đội ngũ giáo sư thỉnh giảng với mục tiêu tăng cường hợp tác, kết nối cùng phát triển.

Với chương trình VNU350 của Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, trung bình mỗi năm, nhà trường thu hút khoảng 10 nhà khoa học trẻ về làm việc. Điều đáng chú ý là nhiều người trong số họ vốn đã có ý định trở về, nhưng còn e ngại về điều kiện làm việc. Khi chính sách thay đổi và môi trường nghiên cứu được cải thiện, quyết định trở về trở nên dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, thu hút nhân tài mới chỉ là bước đầu. Giữ chân và tạo điều kiện để họ phát huy năng lực mới là bài toán lâu dài. Theo GS. Phan Mạnh Hưởng, muốn các nhà khoa học giỏi trở về và gắn bó, chính sách thu hút phải đi cùng môi trường nghiên cứu đủ điều kiện để họ thực sự được làm việc và cống hiến.

“Các nhà khoa học người Việt khi đã thành danh ở nước ngoài trở về đều thực sự muốn đóng góp. Nhưng họ phải nhìn thấy mình có thể đóng góp được hay không. Nếu về một nơi mà không thể triển khai đề tài và chương trình nghiên cứu thì họ chỉ về một lần thôi. Đây là điều nguy hiểm vì còn là vấn đề uy tín”, ông Hưởng nói.

Ở góc nhìn khác, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức khẳng định, muốn trọng dụng nhân tài ở nước ngoài thì trước hết phải sử dụng thật tốt nhân tài trong nước. Quan trọng hơn, phải kết hợp được hai nguồn lực trong và ngoài nước.

Để làm được điều này, cần có chính sách, chiến lược và sự chỉ đạo thống nhất. Từ đó xây dựng thể chế phù hợp. Đặc biệt là sự đồng bộ trong chính sách. “Khi mời, bổ nhiệm và sử dụng nhân tài, không thể để họ vướng vào những quy định chồng chéo, tréo ngoe”.

Bên cạnh đó, cần tạo môi trường để các nhà khoa học ở nước ngoài làm việc cùng các nhóm nghiên cứu trong nước tạo thành một tập thể khoa học. Nhà khoa học cần cộng sự, nghiên cứu sinh, trang thiết bị, phòng thí nghiệm và các đề tài cụ thể… Việc thu hút nhân tài phải gắn với nhiệm vụ và sản phẩm cụ thể, không thể thu hút chung chung. Quan trọng nhất là phải có đầu tư thỏa đáng, để những ý tưởng và kết quả nghiên cứu từ sự kết hợp này sớm tạo ra sản phẩm, đưa vào thực tiễn.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, nhân tài nước ngoài và trong nước có năng lực, trình độ tương đương phải được đối xử công bằng. Ông lấy dẫn chứng, cách đây khoảng 25 năm, TPHCM từng có trường hợp học trò của một giáo sư được mời về với mức lương khoảng 2.000 USD, trong khi chính vị giáo sư chỉ nhận khoảng 300 USD. Cuối cùng, không ai dám nhận và chính sách thu hút không mang lại hiệu quả như mong muốn.

Đây là một bài học rất thấm thía. Bởi muốn thu hút và giữ chân nhân tài, phải tạo ra sự công bằng, bình đẳng trong cơ chế trọng dụng và đãi ngộ.

Một lời mời hấp dẫn có thể đưa người tài trở về, nhưng chỉ môi trường tốt mới có thể giữ họ ở lại. Môi trường ấy không chỉ là mức lương, mà còn là phòng thí nghiệm, kinh phí nghiên cứu, cộng sự, cơ chế trao quyền và cơ hội được theo đuổi những vấn đề khoa học có ý nghĩa./.