GS.TS. Hoàng Văn Cường, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước, nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng việc trao quyền cho các cơ sở GD đại học tự xác định yêu cầu, tự xét, tự bổ nhiệm GS, PGS trên cơ sở tiêu chuẩn tối thiểu do Nhà nước quy định, là sự thay đổi căn bản tư duy quản lý Nhà nước.

Từ phương thức quản lý bằng can thiệp trực tiếp vào quá trình bổ nhiệm GS, PGS sang phương thức Nhà nước quy định tiêu chuẩn tối thiểu, quy trình thực hiện, tạo khuôn khổ hành lang pháp lý để các cơ sở GDĐH tự quyết định, nhà nước giữ vai trò kiểm tra, giám sát. Đây chính là hành động của Bộ GD-ĐT đang chuyển từ Nhà nước quản lý sang Nhà nước kiến tạo mà Chính phủ đang quyết tâm thực hiện.

Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, việc chuyển từ phương thức xét công nhận đạt chuẩn GS, PGS thông qua Hội đồng Giáo sư Nhà nước sang phương thức giao cho các cơ sở giáo dục đại học trực tiếp xét và bổ nhiệm GS, PGS là một chủ đề được thảo luận nhiều năm qua gắn với quá trình tự chủ đại học ở Việt Nam.

Về bản chất, đây là sự thay đổi từ mô hình tập trung với một chuẩn quốc gia thống nhất, do hội đồng cấp nhà nước thẩm định và công nhận, chuyển sang mô hình trao quyền cho các cơ sở giáo dục đại học tự xác định yêu cầu, tự xét, tự bổ nhiệm GS, PGS cho Trường mình theo một mức yêu cầu riêng trên cơ sở tiêu chuẩn tối thiểu do Nhà nước quy định.

Trường tự bổ nhiệm GS, PGS phù hợp với tự chủ đại học

Đã là phương thức mới, tiên tiến thì đương nhiên sẽ có nhiều ưu điểm, điển hình có thể kể đến những ưu điểm chính như sau:

Thứ nhất, phù hợp với nguyên tắc và tăng cường tự chủ đại học. Một trường đại học tự chủ hoàn chỉnh thì điều quan trọng nhất là có đủ năng lực và được tự chủ quyết định về nhân sự và học thuật. Một Trường có định hướng nghiên cứu cơ bản thì có thể coi trọng tiêu chuẩn công bố quốc tế cao hơn; ngược lại Trường có định hướng về nghiên cứu ứng dụng có thể coi trọng hơn tiêu chuẩn về chuyển giao công nghệ, bằng sáng chế hoặc những đóng góp thực tiễn. Phương thức này sẽ trao quyền cho các Trường được tự quyết định đưa ra các tiêu chuẩn ưu tiên hơn, lựa chọn được những người phù hợp hơn với nhu cầu phát triển của Trường để bổ nhiệm GS/PGS.

Thứ hai, Cắt giảm các bước trung gian, quy trình bổ nhiệm nhanh hơn, linh hoạt hơn.

Theo phương thức cũ, quy trình bổ nhiệm phải thông qua 3 cấp hội đồng xét duyệt: Hội đồng cơ sở, Hội đồng ngành - liên ngành, Hội đồng Nhà nước xét duyệt công nhận đạt chuẩn mới quay về Trường ra quyết định bổ nhiệm. Tổng thời gian xét duyệt qua các cấp thường phải mất nửa năm, ứng viên phải trực tiếp có mặt tại 2 vòng báo cáo đánh giá ở Hội đồng cơ sở và Hội đồng ngành - liên ngành nên cũng mất thời gian, công sức đi lại. Nay toàn bộ hoạt động xét bổ nhiệm thực hiện ngay tại cơ sở, không mất thời gian chờ đợi xét duyệt qua các cấp, ứng viên không phải di chuyển, đi lại và sẽ tự tin hơn khi đăng ký xét bổ nhiệm.

Một ưu điểm nổi trội mà phương thức xét duyệt trước đây không thể có được đó là các Trường có thể linh hoạt xét bổ nhiệm GS, PGS tùy theo thời điểm Trường thấy cần, mà không phải chờ đợi đến kỳ xét bổ nhiệm theo kế hoạch chung của cả nước.

Thứ ba, Thu hút nhân tài và phân bổ nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển.

Một giảng viên của Trường rất giỏi về một lĩnh vực khoa học mà không phải định hướng phát triển của Trường thì người đó khó có thể phấn đấu để được bổ nhiệm là GS, PGS. Nếu có được bổ nhiệm là GS, PGS thì cũng không có “đất để dụng võ” nên cũng không phát huy được tài năng. Ngược lại, nếu người đó chuyển đến Trường có định hướng phát triển đúng với lĩnh vực khoa học người đó có tài năng thì sẽ dễ dàng phấn đấu để được bổ nhiệm GS, PGS và sẽ có đất để phát huy tài năng khoa học.

Các Trường có thể tuyển các nhà khoa học xuất sắc từ bên ngoài để bổ nhiệm GS, PGS theo chuẩn và vị trí việc làm của trường cũng là một phương thức thu hút nhân tài cho các cơ sở đào tạo.

Bên cạnh những ưu điểm cư bản như trên, phương thức giao về cho các Trường tự bổ nhiệm cũng có thể dẫn đến một số hệ lụy sau đây:

Thứ nhất, có sự chênh lệch về chất lượng và trình độ đội ngũ GS, PGS được bổ nhiệm.

Mặc dù những người được bổ nhiệm GS, PGS ở các trường khác nhau đều phải đạt chuẩn tối thiểu theo quy định của Nhà nước, nhưng yêu cầu riêng về tiêu chuẩn và mức độ cạnh tranh giữa các ứng viên tại các Trường là khác nhau nên có thể người được bổ nhiệm GS của Trường này lại không bằng người trượt PGS của Trường khác.

Mặc dù bổ nhiệm GS, PGS là theo tiêu chuẩn và đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm của từng Trường, song trong quan niệm và nhìn nhận xã hội, những người mang danh GS, PGS vẫn được coi là tinh hoa của đội ngũ trí thức và mang tri thức xã hội.

Thứ hai, có nguy cơ "lạm phát" chức danh, làm mất động cơ phấn đấu của những người tài năng

Khi được trao quyền, rất có thể có Trường sẽ bổ nhiệm tối đa số lượng GS, PGS chỉ cần đạt các tiêu chuẩn tối thiểu do Nhà nước quy định, không cần quan tâm về uy tín khoa học, đóng góp xã hội của những người này thế nào, cốt sao Trường có nhiều người có chức danh GS, PGS để lấy danh tăng uy tín bề ngoài.

Nguy hại hơn, nếu vì nể nang, vụ lợi các chức danh GS, PGS lại được dành cho những người giữ các vị trí quản lý, còn những nhà khoa học thuần túy không được bổ nhiệm vì hết số lượng được bổ nhiệm theo tỷ lệ quy định. Điều này sẽ làm mất động cơ phấn đấu của những nhà khoa học trẻ, nhà khoa học chân chính.

Điều này rất dễ xẩy ra đối với những Trường đại học chưa đủ năng lực tự chủ thực sự, chưa có khả năng quản trị và kiểm soát chặt chẽ, dân chủ theo hướng phát triển bền vững.

Học hỏi gì từ kinh nghiệm tự bổ nhiệm GS, PGS của nước ngoài

Theo GS.TS Hoàng Văn Cường, ở các đại học lớn trên thế giới, việc bổ nhiệm GS/PGS không do Nhà nước xét, nhưng cũng không phải trường muốn bổ nhiệm bao nhiêu cũng được. Nhà nước chủ yếu quản lý qua luật giáo dục, kiểm định, phân bổ ngân sách theo vị trí trách nhiệm và minh bạch trách nhiệm; còn trường tự bổ nhiệm theo quy trình rất chặt: hội đồng khoa học, bỏ phiếu học thuật, đánh giá của phản biện độc lập từ chuyên gia ngoài trường, trên cơ sở hồ sơ công bố quốc tế, giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu sinh, đóng góp học thuật và uy tín trong ngành.

Nhiều nước không quy định cứng số lượng hoặc tỷ lệ GS/PGS, nhưng chức danh GS/PGS lại bị khống chế gián tiếp bằng vị trí việc làm nào cần các chức danh GS/PGS, nguồn ngân sách được phân bổ cho các vị trí GS/PGS đảm nhiệm, biên chế số lượng GS/PGS theo các ngành đào tạo, các phòng thí nghịêm/trung tâm nghiên cứu có uy tín xếp hạng. Do vậy, các Trường không thể bổ nhiệm ồ ạt nếu không có vị trí việc làm cần các chức danh GS/PGS, không có nguồn ngân sách và yêu cầu phát triển học thuật thật và phải đảm bảo các tiêu chuẩn kiểm định.

Vấn đề quan trọng nhất để các Trường đại học lớn trên thế giới tự bổ nhiệm GS, PGS nhưng không bổ nhiệm ồ ạt, tùy tiện, người có năng lực luôn có động cơ phấn đấu, chất lượng GS, PGS giữa các Trường không quá chênh lệch là trình độ, năng lực quản trị và tự chủ của các Trường rất cao đủ năng lực tự giám sát, điều chỉnh cùng với cơ chế giám sát và phản biện xã hội mạnh mẽ.

Vì vậy, theo GS.TS Hoàng Văn Cường, trao quyền bổ nhiệm GS, PGS cho các cơ sở giáo dục đại học, thì vai trò của Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chuyển từ quản lý, can thiệp trực tiếp như trước đây sang vai trò kiến tạo cho các Trường thực hiện. Đó là phải ban hành tiêu chuẩn tối thiểu, quy trình chặt chẽ công khai, minh bạch, thực hiện kiểm tra, giám sát và kiểm định chất lượng, theo phương châm chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Một số nội dung quan trọng cần quan tâm:

Một là, Ban hành chuẩn tối thiểu thống nhất trên toàn quốc được coi như ngưỡng tối thiểu phải đạt được mang tính bắt buộc về: trình độ, thâm niên giảng dạy; các công bố khoa học, sách dùng cho đào tạo, các đề tài nghiên cứu phục vụ thực tiễn và bằng sáng chế; kết quả đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ; những đóng góp cho ngành và cộng đồng khoa học. Các Trường được phép nâng chuẩn cao hơn theo định hướng ưu tiên và phát triển cảu Trường nhưng không được hạ thấp hơn chuẩn quốc gia.

Hai là, cần có quy định rõ vị trí việc làm cần bổ nhiệm GS, PGS gắn với các ngành đào tạo, nhiệm vụ đào tạo đại học, sau đại học, số lượng nghiên cứu sinh đang đào tạo, số lượng nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm và chiến lược phát triển của Trường theo định hướng nghiên cứu hay ứng dụng. Việc quy định này để tránh tình trạng bổ nhiệm ồ ạt nhằm tăng số lượng chức danh hoặc phục vụ mục đích hành chính.

Trong khi chưa xây dựng được tiêu chuẩn vị trí việc làm của GS/PGS và chưa có cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho các vị trí việc làm GS/PGS được bổ nhiệm thì cần quy định môt cơ cấu hợp lý giữa những người có học hàm GS/ PGS trong cơ cấu vị trí việc làm giảng viên của cơ sở đào tạo. Cơ cấu này cần tính đến sự khác biệt giữa những Trường theo định hướng nghiên cứu, những trường có nhiệm vụ đào tạo nhiều tiến sĩ với những trường đào tạo theo hướng ứng dụng, đào tạo tiến sĩ, đồng thời cũng có cơ chế khuyến khích những người tài năng phấn đấu thành GS/PGS không phụ thuộc vào co cấu vị trí việc làm.

Ba là, bắt buộc có cơ chế phản biện độc lập bên ngoài. Hồ sơ ứng viên cần được đánh giá một cách độc lập bởi các chuyên gia ngoài trường, thậm chí bởi các chuyên gia quốc tế đối với một số ngành, lĩnh vực phổ biến, có tính quốc tế hóa cao. Đây là cơ chế được nhiều đại học lớn trên thế giới áp dụng để hạn chế tình trạng khép kín, nể nang và đảm bảo mặt bằng chất lượng tương đương giữ các GS, PGS được bổ nhiệm.

Bên cạnh đó, cần lấy ý kiến của những những nhà khoa học là người đồng nghiệp và đặc biệt là ý kiến đánh giá của người học là đối tượng có thể đánh giá chính xác, khách quan uy tín, mức độ lan tỏa tri thức khoa học của GS, PGS.

Bốn là, Cần có một quy trình và tiêu chí đánh giá thống nhất, công khai, minh bạch. Cần công bố công khai rõ ràng tiêu chuẩn và nhu cầu các vị trí cần bổ nhiệm; công khai thành viên hội đồng; công khai hồ sơ khoa học của ứng viên. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, tất cả thông tin khoa học về ứng viên cần được công bố công khai để nhận được sự đánh giá rộng rãi của các chuyên gia, nhà khoa học. Các ý kiến đánh giá của Hội đồng về từng ứng viên cũng phải được lưu lại đích danh để tránh tình trạng thiên vị, trù dập. Minh bạch là biện pháp hiệu quả để hạn chế lợi ích nhóm và nâng cao trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, việc công khai thông tin đánh giá, nhận xét của Hội đồng về từng cá nhân ứng viên cần hết sức cẩn trọng, vì đó là danh dự, uy tín cá nhân mà các nhà giáo, nhà khoa học.

Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm vi phạm.

Bộ GD&ĐT không can thiệp vào hoạt động bổ nhiệm tại các Trường, nhưng Bộ vẫn phải duy trì cơ chế đảm bảo mặt bằng chất lượng đồng đều trong toàn hệ thống, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống đại học Việt Nam còn khá phân hóa, thì việc kiểm tra, giam sát và thực thi các biện pháp đảm bảo chất lượng của Bộ càng cần tăng cường, triển khai sát sao, xử lý kịp thời.

Đặc biệt, việc bổ nhiệm các chức danh GS, PGS hiện nay đang được xã hội và bản thân người được bổ nhiệm coi là một danh dự rất lớn. Vì vậy, việc bổ nhiệm cho người nào phải thực sự xứng danh và khi đã bổ nhiệm rồi mà lại phải thu hồi do lỗi của quá trình xét duyệt, sai sót của hội đồng thì gây hậu quả khôn lường, không thể khỏa lấp đối với đương sự và dư luận xã hội.

Vì vậy việc chuyển từ “Tiền kiểm” sang “Hậu kiểm” của Bộ trong quy trình xét duyệt phải được tiến hành chặt chẽ, nghiêm ngặt trước khi cơ sở đào tạo ra quyết định bổ nhiệm chính thức.

Đồng thời phải có hình thức xử lý nghiêm đối với các cơ sở để xẩy ra sai phạm trong xét duyệt bổ nhiệm, phải có xử lý nghiêm khắc với thành viên hội đồng, các chuyên gia phản biện độc lập, những người có liên quan và ứng viên nếu không làm tròn trách nhiệm hoặc có mưu cầu lợi ích cá nhân trong hoạt động xét bổ nhiệm.

"Tôi hy vọng rằng, việc giao cho các Trường tự xét duyệt, bổ nhiệm GS, PGS cùng với cơ chế quản lý mới sát sao của Bộ GD&ĐT sẽ tạo cơ hội thuận lợi, công bằng cho các ứng viên xứng đáng được bổ nhiệm, sẽ phát huy được vai trò, trách nhiệm và nâng cao năng lực tự chủ của các cơ sở đào tạo trong hoạt động bổ nhiệm GS, PGS, góp phần đắc lực vào phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ có trình độ và tầm ảnh hưởng lan tỏa cao của các Trường và xã hội", GS.TS Hoàng Văn Cường nêu quan điểm./.