Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội và dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế trong thực hiện pháp luật về quản lý thuế, đáp ứng yêu cầu cấp bách trong thực hiện cam kết quốc tế về trao đổi thông tin theo yêu cầu.
Dự thảo tập trung xử lý những vướng mắc liên quan đến người nộp thuế đã ngừng hoạt động kinh doanh nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03) và người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan thuế (trạng thái 06).
Theo Bộ Tài chính, việc triển khai Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” cho thấy kết quả xử lý thực chất còn thấp, số người nộp thuế phát sinh trạng thái 06 tiếp tục lớn hơn số trường hợp được xử lý. Các giải pháp hiện hành chủ yếu mới giúp rà soát, phân loại và thực hiện thủ tục hành chính, chưa giải quyết được những vướng mắc về nghĩa vụ khai thuế, xử phạt vi phạm hành chính và hồ sơ khai thuế tồn đọng nhiều năm.
Không phải nộp hồ sơ khai thuế cho thời gian không phát sinh nghĩa vụ thuế
Tại Điều 2 dự thảo Nghị quyết của Chính phủ, Bộ Tài chính đề xuất người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế đối với kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế trong thời gian không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký theo thông báo của cơ quan thuế.
Đối với người nộp thuế chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế nhưng đã bị cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động hoặc văn bản tương đương, dự thảo cũng đề xuất không phải nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian bị thu hồi. Riêng hồ sơ quyết toán thuế đến thời điểm thu hồi vẫn phải thực hiện.
Quy định này không đồng nghĩa với việc xóa bỏ toàn bộ nghĩa vụ khai thuế còn tồn đọng. Theo khoản 3 Điều 2 dự thảo, người nộp thuế vẫn phải nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế còn thiếu đối với các kỳ tính thuế trước thời điểm được áp dụng chính sách và hồ sơ của những kỳ phát sinh nghĩa vụ thuế sau đó.
Người nộp thuế đồng thời phải cam kết, chịu trách nhiệm trước pháp luật về các kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế. Nội dung cam kết phải xác định cụ thể thời gian không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và các kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế, được thể hiện trong hồ sơ khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Đề xuất giảm mức phạt theo thời điểm hoàn thành hồ sơ
Theo Điều 3 dự thảo, người nộp thuế thuộc diện áp dụng chính sách, sau khi nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế còn thiếu, được đề xuất áp dụng mức phạt giảm dần theo thời điểm hoàn thành hồ sơ:
- Bằng 30% mức phạt theo quy định hiện hành: Đối với hồ sơ nộp từ ngày Nghị quyết có hiệu lực đến hết ngày 30/6/2027.
- Bằng 50% mức phạt theo quy định hiện hành: Đối với hồ sơ nộp từ ngày 1/7/2027 đến hết ngày 31/12/2027.
- Bằng 70% mức phạt theo quy định hiện hành: Đối với hồ sơ nộp từ ngày 1/1/2028 đến hết ngày 30/6/2028.
Mức phạt làm căn cứ so sánh được quy định tại Điều 13 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản sửa đổi, bổ sung, nếu có.
Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, dự thảo đề xuất không xử phạt vi phạm thủ tục thuế theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung, nếu có.
Riêng hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai, nếu đã nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế còn thiếu, mức phạt được đề xuất bằng 50% mức phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 dự thảo trong thời gian từ khi Nghị quyết có hiệu lực đến hết ngày 30/6/2028.
Chính sách giảm phạt không áp dụng đối với hành vi có dấu hiệu trốn thuế hoặc trường hợp người nộp thuế đang bị thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử về hành vi trốn thuế, gian lận thuế hoặc sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp.
Xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế với trường hợp tồn đọng từ 10 năm
Tại khoản 5 Điều 4 dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với người nộp thuế đã ngừng hoạt động kinh doanh nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, hoặc đã được cơ quan thuế xác định không hoạt động tại địa chỉ đăng ký từ đủ 10 năm trở lên tính đến ngày Nghị quyết có hiệu lực.
Điều kiện là người nộp thuế không có nợ thuế và không thuộc trường hợp đang bị thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử.
Trước khi thực hiện, cơ quan thuế phải công khai thông tin người nộp thuế dự kiến chấm dứt hiệu lực mã số thuế trên trang thông tin điện tử trong thời hạn 30 ngày. Nếu người nộp thuế không đề nghị khôi phục mã số thuế và cơ quan thuế không nhận được ý kiến phản đối bằng văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, cơ quan thuế sẽ thực hiện thủ tục sau khi hết thời hạn công khai./.
