Khi chứng kiến trẻ em bị bạo hành, người quay video có trách nhiệm gì ngoài việc ghi lại sự việc? Vụ việc tại chùa Bầu, phường Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của người chứng kiến khi trẻ em bị xâm hại.
Luật sư Đặng Văn Cường, Văn phòng luật sư Chính pháp - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội cho rằng: Chưa thể kết luận ngay, người quay clip có phạm tội hay không, bởi muốn đưa ra nhận định, phải làm rõ nhận thức của người quay video trong tình huống cụ thể đó ra sao, có biết trẻ đang bị bạo hành nghiêm trọng hay không, có khả năng can thiệp hoặc gọi người hỗ trợ không và sau khi quay clip đã có hành động gì? Nếu người này chủ động quay lại toàn bộ sự việc để lưu giữ chứng cứ rồi trình báo cơ quan chức năng, hành vi đó cần được đánh giá khác với trường hợp đã biết rõ việc bạo hành diễn ra nhiều lần, có khả năng bảo vệ trẻ nhưng lại cố tình đứng ngoài, chỉ quan sát và ghi hình để thỏa mãn sự tò mò hoặc vì mục đích khác.
Chương IV Luật Trẻ em về cấp độ bảo vệ trẻ em quy định: Cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm bảo vệ trẻ em. Việc bảo vệ trẻ phải được thực hiện ở cả ba cấp độ là phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp. Đặc biệt, khoản 1 Điều 51 Luật Trẻ em nêu rõ: cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và cá nhân có trách nhiệm thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em, hoặc trường hợp trẻ em bị xâm hại, có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi đến cơ quan có thẩm quyền.
Áp dụng vào vụ việc cụ thể ở chùa Bầu, luật sư Đặng Văn Cường phân tích: Khi một người trực tiếp chứng kiến trẻ em đang bị đánh đập, hành hạ, nếu có thể can thiệp một cách an toàn thì cần ngăn chặn hành vi bạo lực; nếu không đủ khả năng trực tiếp khống chế người bạo hành thì phải nhanh chóng kêu gọi người xung quanh hỗ trợ, báo công an, chính quyền địa phương hoặc cơ quan có trách nhiệm bảo vệ trẻ em.
Trong trường hợp khẩn cấp, việc ghi hình có thể được coi là quan trọng để lưu giữ chứng cứ, nhưng cần đi cùng với hành vi bảo vệ trẻ em trong khả năng có thể thực hiện được. “Không nhất thiết mọi người phải lao vào giằng co, khống chế người bạo hành, bởi pháp luật không yêu cầu một người dân phải tự đặt mình vào tình thế nguy hiểm. Nhưng cũng không nên hiểu rằng chỉ cần đứng từ xa quay phim là đã hoàn thành trách nhiệm” - luật sư Cường phân tích.
Pháp luật Việt Nam cũng có quy định về tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng tại Điều 132 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp, dẫn đến người đó chết, thì có thể bị xử lý hình sự. Như vậy, để xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 132, không phải cứ thấy người khác bị đánh mà không can thiệp là đương nhiên phạm tội. Mà cần chứng minh những yếu tố rất cụ thể, trong đó có tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, điều kiện cứu giúp, khả năng cứu giúp, hành vi không cứu giúp và hậu quả chết người. "Nếu trẻ em đang bị đánh đập nhưng chưa đến mức được xác định là tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và chưa xảy ra hậu quả thuộc cấu thành của Điều 132 thì chưa thể tùy tiện áp dụng điều luật này" - luật sư Đặng Văn Cường cho biết./.
