Luật BHXH/2024 quy định: Khi tham gia BHXH, người lao động được hưởng 6 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.

Hiện nay, tỷ lệ đóng vào các quỹ BHXH như ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, hưu trí và tử tuất, BHYT và BH thất nghiệp là 32% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân; học viên quân đội, cơ yếu, người lao động do Bộ Quốc phòng quản lý hiện do đơn vị sử dụng lao động đóng BHXH 100%.

Trao đổi của phóng viên VOV2 với Đại tá Nguyễn Bá Tích, Trưởng phòng Chế độ BHXH, Cục Chính sách - Xã hội, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam

Cách tính mức lương hưu hằng tháng đối với người làm nghề, công việc đặc biệt đặc thù

Theo khoản 2 Điều 14 Thông tư số 90/2025 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với quân nhân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, mức lương hưu hằng tháng đối với người làm nghề, công việc đặc biệt đặc thù thuộc Bộ Quốc phòng được xác định như sau:

Mức lương hưu hằng tháng của người lao động làm nghề, công việc đặc biệt đặc thù theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về danh mục nghề, công việc đặc biệt đặc thù được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội và khoản 3 Điều 13 Nghị định số 157/2025/NĐ-CP. Trường hợp nghỉ hưu mà tỷ lệ hưởng lương hưu chưa đạt mức tối đa 75% thì được tính như sau:

Đối với lao động nam bằng 50% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 19 Thông tư này tương ứng với 15 năm đầu đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 3%, mức tối đa bằng 75%;

Đối với lao động nữ bằng 55% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH tương ứng với 15 năm đầu đóng BHXH, sau đó cứ mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 3%, mức tối đa bằng 75%.

Xác định thời gian làm nghề, công việc đặc biệt đặc thù.

Thời gian làm nghề, công việc đặc biệt đặc thù được tính kể từ thời điểm người lao động có quyết định giao nhiệm vụ của cấp có thẩm quyền. Trường hợp quá trình làm nghề, công việc đặc biệt đặc thù bị gián đoạn thì các khoảng thời gian đủ điều kiện vẫn được cộng dồn, không bắt buộc phải liên tục.

Đáng chú ý, trong thời gian đang làm nghề, công việc đặc bệt đặc thù, nếu người lao động phải nghỉ để điều trị, phục hồi chức năng lao động do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc nghỉ hưởng chế độ thai sản thì các khoảng thời gian này vẫn được tính là thời gian làm nghề, công việc đặc biệt đặc thù.

Ngược lại, một số khoảng thời gian sẽ không được tính, gồm: Thời gian được cử đi học tập hoặc công tác từ 3 tháng trở lên mà không trực tiếp làm nghề, công việc đặc biệt đặc thù; Thời gian nghỉ chuẩn bị hưu; Thời gian nghỉ điều trị bệnh từ 1 tháng trở lên, nếu không phải do ốm đau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh hoặc khi tham gia phòng, chống thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn. Ngoài ra, các khoảng thời gian bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ công tác; bị tạm giữ, tạm giam; chấp hành hình phạt tù hoặc đào ngũ cũng không được tính là thời gian làm nghề, công việc đặc biệt đặc thù.

Như vậy, khi giải quyết chế độ hưu trí, cơ quan, đơn vị quản lý người lao động sẽ căn cứ vào toàn bộ quá trình thực tế làm nghề, công việc đặc biệt đặc thù để xác định tổng thời gian được tính. Trong đó, các khoảng thời gian đủ điều kiện sẽ được cộng dồn, đồng thời loại trừ những khoảng thời gian không được tính theo khoản 3 Điều 14 Thông tư số 90. Đây là căn cứ để xác định tổng thời gian làm nghề, công việc đặc biệt đặc thù và tính mức hưởng lương hưu theo đúng quy định.