An toàn thực phẩm không chỉ là câu chuyện của từng bữa ăn mà đã trở thành vấn đề an sinh xã hội, tác động trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng và niềm tin của người tiêu dùng. Nhìn lại năm 2025, dù hệ thống pháp luật vẫn đang tiếp tục được hoàn thiện, song nhiều vụ việc vi phạm nghiêm trọng vẫn bị phát hiện, cho thấy những bất cập trong công tác quản lý.
Theo các đại biểu Quốc hội, nếu chỉ dừng lại ở việc xử lý từng vụ việc riêng lẻ, thì sẽ rất khó kiểm soát rủi ro một cách căn cơ. Yêu cầu đặt ra là phải chuyển mạnh sang phòng ngừa, siết chặt từ thể chế đến thực thi, đặc biệt là vai trò của chính quyền địa phương và trách nhiệm của các chủ thể tham gia sản xuất và kinh doanh thực phẩm. Về những tồn tại của công tác an toàn thực phẩm trong năm qua, cũng như các ưu tiên cần đặt ra trong năm 2026, VOV2 đã có cuộc trao đổi với đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga – Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Phó trưởng đoàn đại biểu quốc hội thành phố Hải Phòng:
PV: Thưa bà, nhìn lại năm 2025, bà đánh giá như thế nào về công tác quản lý an toàn thực phẩm trên cả nước?
Năm 2025 tiếp tục là một năm nhiều thách thức đối với công tác quản lý an toàn thực phẩm. Vấn đề nổi cộm đầu tiên, theo tôi, chính là những lỗ hổng trong cơ chế quản lý, đặc biệt ở khâu tiền kiểm và cơ chế tự công bố sản phẩm. Chủ trương cải cách thủ tục hành chính, chuyển mạnh sang hậu kiểm là đúng đắn. Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai, năng lực hậu kiểm chưa tương xứng, lực lượng mỏng, công nghệ giám sát còn hạn chế. Khi đó, cơ chế tự công bố vốn được thiết kế để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp lại vô tình trở thành kẽ hở để một bộ phận doanh nghiệp lợi dụng.
Thực tế các vụ án bị phát hiện trong năm 2025 cho thấy, nhiều vi phạm không còn mang tính cá nhân đơn lẻ mà đã hình thành những chuỗi lợi ích tinh vi, có sự móc nối giữa doanh nghiệp, dịch vụ trung gian và thậm chí cả một bộ phận cán bộ quản lý, biến quy trình cấp phép thành cơ chế “xin – cho”.
Bên cạnh đó, quảng cáo sai sự thật, thổi phồng công dụng trên môi trường số vẫn là điểm nóng, trong khi công tác kiểm soát nội dung quảng cáo còn chậm, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe. Một tồn tại khác là sự phân tán trong quản lý, phối hợp liên ngành chưa hiệu quả, trách nhiệm đôi khi chưa được phân định rõ, dẫn đến chồng chéo, khoảng trống quản lý và khó truy trách nhiệm đến cùng khi xảy ra vi phạm.
Tất cả những vấn đề này cho thấy, ngoài yếu tố thực thi và đạo đức công vụ, khâu lập pháp vẫn còn những quy định chưa rõ ràng, chưa đầy đủ, tạo điều kiện để các đối tượng lợi dụng kẽ hở.
PV: Các vụ vi phạm liên tiếp xảy ra khiến dư luận lo lắng về hiệu quả quản lý ATTP tại địa phương. Theo bà, vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý an toàn thực phẩm cần được nhìn nhận như thế nào?
Chính quyền địa phương giữ vai trò đặc biệt quan trọng, thậm chí mang tính quyết định trong quản lý an toàn thực phẩm. Đây là cấp quản lý gần dân nhất, sát thực tiễn sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nhất. Các quy định từ Trung ương chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được hiện thực hóa trong đời sống hằng ngày ở địa phương.
Thực tế cho thấy, phần lớn các khâu tiềm ẩn nguy cơ mất ATTP – từ sản xuất nhỏ lẻ, chăn nuôi, giết mổ, chế biến đến lưu thông đều diễn ra trên một địa bàn cụ thể. Không ai nắm rõ địa bàn và đối tượng kinh doanh hơn chính quyền và cơ quan chuyên môn tại chỗ.
Nếu địa phương làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra thường xuyên, hậu kiểm chủ động, vi phạm hoàn toàn có thể được phát hiện sớm và ngăn chặn từ đầu. Quan trọng hơn, cùng một quy định pháp luật nhưng hiệu quả thực thi ở mỗi địa phương rất khác nhau, phụ thuộc vào mức độ quyết liệt của cấp ủy, chính quyền và sự phối hợp của các ngành.
Nơi nào người đứng đầu quan tâm, chỉ đạo sát sao, phân công rõ trách nhiệm thì công tác ATTP đi vào nền nếp. Ngược lại, nếu buông lỏng quản lý, nể nang, né tránh thì vi phạm rất dễ nảy sinh và kéo dài.
PV: Từ những tồn tại đó, theo bà, năm 2026 cần ưu tiên những giải pháp gì để nâng cao năng lực quản lý ATTP?
Kỳ vọng lớn nhất của xã hội trong năm 2026 là chuyển từ tư duy xử lý vụ việc sang phòng ngừa hệ thống. Chúng ta không thể và cũng không cần chạy theo xử lý từng vụ vi phạm, mà phải chủ động kiểm soát rủi ro ngay từ đầu – đây là yêu cầu tất yếu để bảo đảm phát triển bền vững.
Trước hết, cần hoàn thiện thể chế theo hướng bịt kín các kẽ hở đã bộc lộ. Phải rà soát toàn diện các quy định về tự công bố, hậu kiểm, cấp phép quảng cáo, xác nhận chất lượng, bảo đảm nguyên tắc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp làm ăn chân chính nhưng không để cơ chế thông thoáng bị lợi dụng trục lợi.
Đối với những lĩnh vực rủi ro cao như sữa, thực phẩm chức năng, thực phẩm dinh dưỡng y học, cần có cơ chế giám sát đặc biệt, chặt chẽ hơn, thậm chí phân tầng quản lý theo mức độ nguy cơ.
PV: Hậu kiểm được xem là “điểm nghẽn” trong quản lý ATTP. Theo bà, cần điều chỉnh công tác này như thế nào?
Nâng cao năng lực hậu kiểm một cách thực chất là yêu cầu rất cấp bách hiện nay. Thực tế, hậu kiểm vẫn chủ yếu dừng ở kiểm tra hồ sơ, trong khi việc lấy mẫu, xét nghiệm độc lập, ứng dụng công nghệ số để truy xuất nguồn gốc và phân tích dữ liệu còn rất hạn chế.
Nguyên nhân có cả về nguồn nhân lực và hạ tầng chưa đáp ứng. Vì vậy, đầu tư cho hệ thống kiểm nghiệm, cho con người và cho công nghệ không còn là lựa chọn mà là điều kiện bắt buộc nếu chúng ta muốn bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Song song với đó, cần xử lý nghiêm minh, nhất quán, không có vùng cấm đối với các hành vi vi phạm; rà soát hệ thống chế tài để bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, làm rõ trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm quản lý của người đứng đầu.
PV: Quản lý quảng cáo thực phẩm trên môi trường số đang đặt ra nhiều thách thức. Theo bà, các quy định cần được lưu ý ra sao?
Quốc hội đã kịp thời sửa đổi, thông qua nhiều luật liên quan như Luật Quảng cáo, Luật Thương mại điện tử tại kỳ họp thứ 10 vừa qua. Các luật này đã chú trọng hơn tới cơ chế ràng buộc trách nhiệm không chỉ với doanh nghiệp, mà cả nền tảng trung gian và người quảng bá, nhằm chấm dứt tình trạng “quảng cáo xong là xong, hậu quả người tiêu dùng gánh chịu”.
Tôi kỳ vọng chúng ta sẽ từng bước xây dựng được văn hóa an toàn thực phẩm, trong đó doanh nghiệp tuân thủ cạnh tranh lành mạnh, cán bộ quản lý giữ vững đạo đức công vụ, còn người tiêu dùng được trang bị đầy đủ thông tin, kiến thức để tự bảo vệ mình. Khi đó, công tác quản lý ATTP mới thực sự hiệu quả, đồng nghĩa với việc bảo vệ tốt hơn sức khỏe của nhân dân.
PV: Xin trân trọng cảm ơn bà!
