Theo thạc sĩ Ngô Xuân Dũng – chuyên gia về lĩnh vực công nghệ chế biến thực phẩm, việc 300 tấn thịt lợn bệnh xâm nhập vào các bếp ăn tập thể là một sai phạm đặc biệt nghiêm trọng bởi phần lớn đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp là trẻ em. Đây là nhóm người tiêu dùng dễ bị tổn thương và cần bảo vệ đặc biệt. Tuy nhiên, nghịch lý là, chính thế hệ tương lai lại đang bị lợi dụng trở thành trở thành đầu ra cho chuỗi tiêu thụ thực phẩm bẩn.
“Theo Tổ chức Y tế thế giới và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc, vệ sinh an toàn thực phẩm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không bị ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học hay các hình thức ô nhiễm khác gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Với việc đưa thịt lợn đã bị nhiễm bệnh vào chế biến bữa ăn cho trẻ là một sự việc nghiêm trọng ở cả mức độ và bản chất”, thạc sĩ Ngô Xuân Dũng nhận định.
Cũng theo thạc sĩ Ngô Xuân Dũng, mặc dù, virus gây dịch tả lợn châu Phi không có khả năng lây nhiễm và gây bệnh sang người song nếu không may ăn phải thịt lợn nhiễm bệnh hoặc lợn chết do virus này, người tiêu dùng phải đối diện với rất nhiều rủi ro về sức khỏe.
“Khi lợn đã bị nhiễm virus tả châu Phi thì virus này gây rối loạn hệ thống miễn dịch, chức năng sinh lý chuyển hóa và hủy hoại các cơ quan nội tạng làm cho chất lượng thịt bị suy giảm nghiêm trọng. Đồng thời, khi lợn nhiễm bệnh, sức đề kháng của chúng giảm đi rõ rệt và dễ mắc thêm các bệnh khác như bệnh tai xanh, cúm, thương hàn, liên cầu khuẩn lợn hay lở mồm long móng. Thịt lợn chết, lợn bệnh cũng dễ nhiễm các vi khuẩn như Salmonella, E.coli hay Listeria. Bên cạnh đó, để giữ cho thịt lợn nhiễm bệnh không bị phân hủy trong quá trình vận chuyển, bảo quản, người sản xuất có thể sử dụng các chất phụ gia, “phù phép” làm cho thịt trông có vẻ tươi ngon. Khi ăn phải, người tiêu dùng có thể bị nhiễm các vi khuẩn và độc tố do vi khuẩn sinh ra, phụ gia thực phẩm không rõ nguồn gốc dẫn đến ngộ độc cấp tính, rối loạn tiêu hóa, viêm ruột… Do hệ miễn dịch còn non yếu, trẻ nhỏ rất dễ gặp biến chứng nặng”, thạc sĩ Ngô Xuân Dũng phân tích.
Thịt lợn nhiễm tả châu Phi có thể có một số dấu hiệu như màu sắc tái nhợt hoặc bầm tím, bị chảy nước, thịt nhão và kém đàn hồi, có nốt xuất huyết lầm tấm trên da. Tuy nhiên, các biểu hiện này thường rất mờ nhạt và khó nhận biết bằng cảm quan. Do đó, để ngăn chặn tình trạng thịt lợn nhiễm bệnh bị tuồn ra thị trường và vào bếp ăn tập thể, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, thạc sĩ Ngô Xuân Dũng cho rằng việc triển khai đồng bộ nhiều biện pháp là điều cấp thiết.
“Để giải quyết triệt để cần phải tiếp cận từ 4 nhóm giải pháp: Thứ nhất là phải kiểm soát và truy xuất được nguồn gốc của thực phẩm, ví dụ như áp dụng các mã truy xuất điện tử cho từng lô thịt, siết chặt quy trình kiểm dịch và tăng cường vai trògiám sát của đơn vị kiểm nghiệm độc lập. Thứ hai là thành lập đội phản ứng nhanh để xử lý các điểm nghi ngờ tiêu thụ, vận chuyển thịt nghi bị nhiễm bệnh. Với các trường học nên ký hợp đồng cung cấp suất ăn với các cơ sở đạt tiêu chuẩn HACCP hoặc chứng nhận ISO 22000; phải lấy mẫu ngẫu nhiên định kỳ và kiểm tra đột xuất. Thứ ba là cần áp dụng chế tài mạnh, xử phạt thật nghiêm minh những trường hợp cố tình vi phạm. Thứ tư là truyền thông đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hành giúp cho mọi người trong cộng đồng có thể nhận diện được các nguy cơ và biết cách lựa chọn, bảo quản thực phẩm an toàn”, thạc sĩ Ngô Xuân Dũng đề xuất.
Vụ việc khoảng 300 tấn thịt lợn bệnh bán ra thị trường và đưa vào bếp ăn tập thể một lần nữa cho thấy: thực phẩm bẩn hoàn toàn có thể vượt qua các quy định của pháp luật cũng như các khâu kiểm soát nếu những người có trách nhiệm buông lỏng chức năng quản lý, giám sát. Nếu không quyết liệt ngăn chặn từ gốc rễ những sai phạm này, cái giá phải trả không chỉ là sức khỏe của một thế hệ, mà còn là sự xói mòn niềm tin của toàn xã hội vào hệ thống giáo dục và quản lý thực phẩm.
