Chiều cao của người Việt đứng ở đâu so với thế giới?

Theo các số liệu thống kê, chiều cao trung bình của nam giới Việt Nam hiện đạt 168,1 cm và nữ giới đạt 156,2 cm, đứng thứ 153 trên tổng số 201 quốc gia và vùng lãnh thổ. So với chiều cao trung bình của nam giới toàn cầu (171 cm), thanh niên nước ta vẫn thấp hơn khoảng 3 cm và còn một khoảng cách khá xa so với các quốc gia dẫn đầu như Hà Lan (nam giới cao xấp xỉ 185 cm) hay các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc (nam giới cao trung bình 173 cm).

Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử, Việt Nam đã có những bước tiến rất dài trong phát triển chiều cao. TS.BS Trương Hồng Sơn – Viện trưởng Viện Y học ứng dụng Việt Nam – phân tích, năm 2000, chiều cao trung bình của nam giới Việt Nam chỉ đạt 162,3 cm và nữ giới là 152,3 cm. Sau 20 năm, chúng ta đã có sự cải thiện vượt bậc. Đặc biệt, trong giai đoạn 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng đạt 3,7 cm ở nam và 2,6 cm ở nữ. Đây là tốc độ tăng trưởng nhanh kỷ lục, ngang ngửa với 'thời kỳ vàng' của Nhật Bản."

Dù vậy, TS.BS Trương Hồng Sơn cũng lưu ý một thực tế: Thành quả của năm 2020 không phải là kết quả của những giải pháp tức thời, mà là quả ngọt từ những chiến lược can thiệp đồng bộ, toàn diện được Chính phủ giao cho Bộ Y tế và Viện Dinh dưỡng Quốc gia chủ trì triển khai tại hơn 10.000 xã, phường từ những năm 1998 - 2000.

Những nghịch lý và sai lầm trong việc tăng chiều cao cho trẻ

Những năm gần đây, có thể thấy một sự thay đổi tích cực, đó là thay vì chỉ chú ý đến cân nặng của con, các bậc cha mẹ đã quan tâm đến sự phát triển chiều cao của trẻ. Tuy nhiên, làm thế nào để thế hệ tương lai phát triển chiều cao tối ưu vẫn là điều mà nhiều gia đình loay hoay, chưa tìm được lối ra. Nhiều phụ huynh sẵn sàng chi số tiền lớn mua canxi, hormone tăng trưởng, hay các loại sữa xách tay được quảng cáo để nhồi nhét cho con.

TS.BS Trương Hồng Sơn khẳng định, chiều cao không hoàn toàn là do gene mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như dinh dưỡng, vận động thể lực, môi trường, tâm lý, giấc ngủ. Ví dụ, bố cao 168 cm, mẹ cao 156 cm thì con trai có thể cao từ 167 cm đến 175 cm.

“Thực ra, cái quan trọng nhất là bữa ăn hàng ngày. Bởi vì tất cả các vi khoáng đều có sẵn trong thực phẩm tự nhiên; việc bổ sung thực phẩm chức năng chỉ thực sự cần thiết khi có bằng chứng khoa học cho thấy trẻ bị thiếu hụt, chứ không phải "càng nhiều càng tốt", TS.BS Trương Hồng Sơn nhấn mạnh.

Không chỉ là chế độ dinh dưỡng thiếu hợp lý, những buổi học liên miên từ sáng sớm đến tối muộn và áp lực học hành, thi cử đã khiến trẻ em, nhất là tại các đô thị lớn, không còn thời gian vận động và không được ngủ đủ giấc - hai yếu tố then chốt kích thích hormone tăng trưởng phát triển.

Bên cạnh đó, lối sống hiện đại đang đẩy trẻ em thành thị vào làn sóng thừa cân béo phì do tiêu thụ quá nhiều đường và đồ ăn vặt nhiều dầu mỡ. Đường không giúp tăng chiều cao nhưng lại đẩy cân nặng lên nhanh chóng, tạo ra nguy cơ dậy thì sớm và kìm hãm đà tăng trưởng chiều cao.

Trong khi trẻ em thành thị đối mặt với nguy cơ béo phì, thì tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (như Tây Nguyên, miền núi phía Bắc), tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi đang có xu hướng quay trở lại do thiếu hụt đầu tư và sự lơi lỏng trong các chính sách can thiệp những năm gần đây.

“Chúng ta cần phải điều chỉnh về mặt chính sách để đảm bảo duy trì những giải pháp được duy trì tốt hơn nữa để hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi và nâng ctầm vóc của những trẻ em ở vùng vùng miền núi khó khăn, vùng Tây Nguyên”, TS.BS Trương Hồng Sơn khuyến nghị.

Dinh dưỡng – chìa khóa vàng để phát triển chiều cao tối ưu cho trẻ

Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị đã đặt mục tiêu rõ ràng: đến năm 2030, giúp thanh thiếu niên từ 1 đến 18 tuổi tăng thêm tối thiểu 1,5 cm. Để hiện thực hóa mục tiêu này, TS.BS Trương Hồng Sơn đề xuất chiến lược can thiệp tập trung vào 3 nhóm đối tượng vàng:

Nhóm phụ nữ mang thai: Giai đoạn “9 tháng 10 ngày” trong bụng mẹ, thai nhi sẽ phát triển liên tục để đạt chiều dài trung bình khoảng 50 cm khi chào đời — tương đương với 1/3 chiều cao của một người trưởng thành sau này. Để chuẩn bị một bệ phóng vững chắc cho con, việc giáo dục dinh dưỡng cho thai phụ là cực kỳ cần thiết. Người mẹ cần được ăn uống đầy đủ, bổ sung đa vi chất và viên sắt. Đặc biệt, cần đẩy mạnh công tác hỗ trợ và chăm sóc y tế cho phụ nữ mang thai ở các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa còn gặp nhiều khó khăn.

Nhóm trẻ từ 0 - 24 tháng tuổi: Hai năm đầu đời chính là khoảng thời gian chứng kiến sự tăng trưởng đáng kinh ngạc nhất của trẻ nhỏ. Trung bình, trẻ sẽ tăng thêm khoảng 36 cm chỉ trong vòng 24 tháng. Đây được coi là chiếc "chìa khóa vàng" quyết định vóc dáng tương lai của trẻ. Trong giai đoạn này, không có bất kỳ nguồn dinh dưỡng nào tối ưu hơn sữa mẹ. Các chuyên gia khuyến cáo cần nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, kết hợp với một chế độ ăn dặm hợp lý, khoa học và đảm bảo đủ chất khi trẻ lớn dần lên.

Nhóm trẻ từ 2 tuổi trở lên: Sau 2 tuổi, tốc độ tăng trưởng của trẻ sẽ chuyển sang giai đoạn ổn định hơn. Tuy nhiên, đây lại là bước đệm cực kỳ quan trọng để trẻ tích lũy năng lượng, tạo đà bứt phá cho giai đoạn tiền dậy thì — cơ hội cuối cùng để định hình chiều cao tối ưu. Lúc này, khi trẻ bắt đầu rời xa vòng tay cha mẹ để đến trường, trọng tâm can thiệp sẽ dịch chuyển sang hệ thống dinh dưỡng học đường toàn diện. Sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong việc xây dựng thực đơn chuẩn khoa học, đủ chất tại trường học sẽ là giải pháp cốt lõi giúp trẻ phát triển toàn diện.

Bài học từ mô hình dinh dưỡng học đường của Nhật Bản

Để giải quyết bài toán thừa cân ở thành thị và thấp còi ở nông thôn, theo TS.BS Trương Hồng Sơn, Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm từ Nhật Bản. Từng là quốc gia có chiều cao khá khiêm tốn sau chiến tranh Thế giới thứ II nhưng chỉ sau vài thập kỷ quốc gia này đã cải thiện rất mạnh tầm vóc người dân.

“Nhật Bản đã áp dụng thành công chương trình dinh dưỡng học đường, tôi nhấn mạnh dinh dưỡng học đường chứ không chỉ riêng sữa học đường - một cách bền vững. Những bữa ăn đấy không chỉ là nguồn dinh dưỡng tốt mà còn hình thành và lan tỏa thói quen ăn uống lành mạnh cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ, giúp giảm nguy cơ thừa cân béo phì”, TS. BS Trương Hồng Sơn nói.

Theo TS.BS Trương Hồng Sơn, một chương trình dinh dưỡng học đường khoa học cần đảm bảo các nguyên tắc cốt lõi, bao gồm:

- Đảm bảo đủ năng lượng và vi chất, đặc biệt chú trọng các chất liên quan trực tiếp đến phát triển chiều cao cho trẻ như sắt, kẽm, canxi, vitamin A, vitamin D và một số vitamin, khoáng chất khác.

- Ưu tiên sử dụng thực phẩm tươi sống tại địa phương, ăn thực phẩm theo mùa thay vì đồ hộp để đảm bảo dinh dưỡng tốt nhất.

- Chủ động giảm muối và giảm đường trong khẩu phần ăn của trẻ.

- Đưa giáo dục dinh dưỡng vào trường học để tạo thành thói quen lành mạnh lâu dài, giúp trẻ tự phòng chống béo phì khi trưởng thành.

"Với các bậc cha mẹ, muốn con phát triển chiều cao tối ưu, phụ huynh nên nhớ 3 nguyên tắc: Can thiệp sớm bởi nếu để qua giai đoạn vàng, mọi can thiệp đều không còn tác dụng; Dinh dưỡng chuẩn từ bữa ăn hàng ngày thay vì lạm dụng thuốc bổ; Can thiệp tổng thể, kết hợp hài hòa giữa dinh dưỡng, vận động thể thao và ngủ đủ giấc", TS.BS Trương Hồng Sơn đưa ra lời khuyên.