Theo các chuyên gia y tế, việc trang bị kiến thức y khoa chuẩn xác về bệnh động kinh giúp người bệnh tuân thủ lộ trình điều trị tốt hơn, đồng thời giúp cộng đồng xử trí kịp thời, an toàn khi đối mặt với các tình huống khẩn cấp.

Những dấu hiệu đặc trưng của bệnh động kinh

Bệnh động kinh xuất phát từ sự phóng điện đột ngột và bất thường của các tế bào thần kinh trong não bộ. Sự rối loạn điện năng tạm thời này dẫn đến những thay đổi đột ngột về hành vi, cử động, cảm giác hoặc trạng thái ý thức của người bệnh. Theo TS.BS Nguyễn Hồng Quân, trước khi nói về bệnh động kinh, chúng ta thường biết đến một khái niệm đó là "cơn động kinh".

“Cơn động kinh là hoạt động phóng điện của có thể gây mất ý thức, rối loạn ngôn ngữ, co giật hoặc là rối loạn cảm giác. Và khi triệu chứng này lặp lại (tức là có nguy cơ tái phát trên 60% trong 10 năm) thì chúng ta có thể xác định đây là bệnh động kinh”- BS Nguyễn Hồng Quân cho hay.

Các biểu hiện của cơn động kinh rất đa dạng tùy thuộc vào vùng não bị ảnh hưởng. Người bệnh có thể đột ngột mất ý thức, ngã xuống đất, cơ thể co cứng rồi co giật các cơ, sùi bọt mép... Cơn này thường kéo dài vài phút và để lại cảm giác mệt mỏi, lú lẫn sau khi tỉnh. Ngoài ra, biểu hiện nhẹ hơn khi người bệnh chỉ bị giật một bộ phận cơ thể (như tay, chân, cơ mặt), có cảm giác tê bì, thay đổi vị giác, khứu giác đột ngột hoặc có những hành động lặp đi lặp lại vô thức mà vẫn giữ một phần ý thức.

BS Nguyễn Hồng Quân nhấn mạnh, việc phân biệt các cơn co giật do động kinh và co giật do sốt cao, cũng rất quan trọng.

“Trước đây chúng ta hay nhầm các cơn co giật do động kinh và co giật do sốt cao. Sốt co giật hay gặp ở trẻ nhỏ từ khoảng 6 tháng cho đến 5 tuổi, hay gặp nhất là trẻ từ 2 đến 3 tuổi. Các cơn co giật này thường chỉ xuất hiện khi bệnh nhân có sốt trên 38,5 độ. Cơn co giật này tương đối lành tính, tỉ lệ chiếm khoảng 1% dân số đối với các cháu. Tuy nhiên, các mẹ cũng lưu ý là nếu trong trường hợp sốt co giật, chúng ta cũng cần đưa trẻ đi khám để loại trừ các nguyên nhân khác hoặc những vấn đề nguy hiểm”- BS Quân nói.

Chẩn đoán động kinh đòi hỏi sự thăm khám kỹ lưỡng từ bác sĩ chuyên khoa thần kinh. Các phương pháp cận lâm sàng quan trọng bao gồm điện não đồ (EEG) nhằm ghi lại sóng điện não bất thường và chụp cộng hưởng từ (MRI) não để tìm kiếm các tổn thương thực thể cấu trúc não.

Những nguyên tắc trong điều trị bệnh động kinh

Mục tiêu cốt lõi trong điều trị động kinh là kiểm soát hoàn toàn các cơn co giật, giúp người bệnh duy trì cuộc sống sinh hoạt, học tập và làm việc bình thường. Theo BS Nguyễn Hồng Quân, một trong những phương pháp điều trị phổ biến hiện nay là dùng thuốc.

“Sử dụng thuốc chống động kinh là phương pháp điều trị chủ đạo và đóng vai trò quyết định. Bác sĩ sẽ chỉ định loại thuốc và liều lượng phù hợp dựa trên thể bệnh, lứa tuổi và tình trạng sức khỏe của từng bệnh nhân. Thời gian dùng thuốc thường kéo dài từ 3 đến 5 năm sau khi đã kiểm soát hoàn toàn cơn. Tuy nhiên, một lưu ý quan trọng đó là người bệnh tuyệt đối không được tự ý ngưng thuốc, giảm liều hoặc đổi thuốc khi chưa có ý kiến của bác sĩ. Việc ngắt quãng uống thuốc là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tái phát cơn, thậm chí gây ra trạng thái động kinh kéo dài đe dọa tính mạng”- BS Nguyễn Hồng Quân chia sẻ.

Đối với các trường hợp động kinh kháng thuốc, bác sĩ có thể cân nhắc các giải pháp chuyên sâu như phẫu thuật ngoại khoa cắt bỏ ổ động kinh, kích thích dây thần kinh phế vị hoặc áp dụng chế độ ăn kiêng đặc biệt dưới sự giám sát y tế chặt chẽ.

Chăm sóc tốt cũng giúp quá trình điều trị bệnh đạt hiệu quả. Theo các chuyên gia y tế, sống chung với bệnh động kinh đòi hỏi người bệnh phải xây dựng một lối sống khoa học, lành mạnh để hạn chế tối đa các yếu tố khởi phát cơn.

Thiếu ngủ, căng thẳng tâm lý kéo dài, sử dụng chất kích thích (rượu bia, thuốc lá, caffeine quá mức) hoặc tiếp xúc với ánh sáng chớp nháy cường độ cao có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện cơn co giật, vì thế, người bệnh nên tránh các yếu tố kích thích.

Để đảm bảo an toàn trong sinh hoạt, người bệnh nên tránh làm việc ở những nơi trên cao, gần nguồn nước sâu hoặc vận hành máy móc nặng khi cơn co giật chưa được kiểm soát ổn định hoàn toàn. Các hoạt động thể thao nhẹ nhàng (có người giám sát) vẫn được khuyến khích để nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần.

Hỗ trợ tâm lý: Sự thấu hiểu, đồng hành và động viên từ gia đình đóng vai trò vô cùng to lớn giúp người bệnh vượt qua mặc cảm tự ti, tuân thủ điều trị tốt hơn và hòa nhập cộng đồng.

Xử trí đúng cách khi gặp người bị lên cơn động kinh

Theo BS Nguyễn Hồng Quân, khi chứng kiến một người lên cơn động kinh co giật toàn thể, phản ứng của những người xung quanh đóng vai trò quyết định đến sự an toàn của bệnh nhân.

Giữ bình tĩnh và bảo vệ nạn nhân: Đặt người bệnh nằm nghiêng sang một bên để đờm dãi, dịch nôn (nếu có) thoát ra ngoài dễ dàng, tránh nguy cơ sặc vào đường thở. Di dời các vật sắc nhọn, cứng xung quanh ra khỏi vị trí của người bệnh để tránh va đập gây chấn thương.

Tuyệt đối không nhét vật lạ vào miệng: Không cố gắng cạy miệng hay nhét bất kỳ vật gì (khăn, muỗng, ngón tay) vào răng miệng người bệnh trong cơn co giật. Hành động này không ngăn được việc cắn lưỡi mà ngược lại dễ làm gãy răng, tổn thương mô mềm vùng miệng, gây tắc nghẽn đường thở hoặc làm chính người sơ cứu bị thương.

Theo dõi thời gian và tìm kiếm hỗ trợ y tế: Quan sát thời gian diễn biến cơn co giật. Đa số các cơn sẽ tự ngừng sau 1 đến 3 phút. Tuy nhiên, cần gọi cấp cứu y tế ngay lập tức nếu thấy người bệnh bị cơn co giật kéo dài trên 5 phút, liên tiếp lên cơn co giật mà không tỉnh lại giữa các cơn, hoặc người bệnh bị thương nặng, khó thở sau cơn, là phụ nữ mang thai hoặc có bệnh lý nền nguy hiểm khác.