Ung thư vú không đồng nghĩa chấm dứt khả năng làm mẹ
Ở tuổi 30, Nguyễn Thanh H bắt đầu tính chuyện tiến tới hôn nhân với bạn trai. Cô từng mơ về một gia đình nhỏ, có tiếng trẻ thơ và được tận hưởng niềm hạnh phúc làm mẹ. Thế nhưng, những dự định ấy bất ngờ bị đảo lộn khi H. phát hiện một khối u ở ngực.
Kết quả xét nghiệm cho thấy cô mắc ung thư vú giai đoạn 2. Dù bệnh được phát hiện tương đối sớm, nhưng do bị đa u nên theo đánh giá của bác sĩ, để điều trị triệt để và hạn chế nguy cơ tái phát, H. cần phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn một bên vú.
Điều khiến H. lo lắng không chỉ là cuộc chiến với ung thư mà còn là nỗi sợ mất đi khả năng sinh con. Gia đình từng động viên cô nghĩ đến những lựa chọn khác nếu sau này không thể có con. Nhưng H. vẫn hy vọng sự đồng hành của các bác sĩ cùng với y học hiện đại có thể giúp mình vừa điều trị bệnh, vừa bảo tồn khả năng sinh sản.
Không riêng bệnh nhân H, Ths.BS Phạm Thị Hằng (Khoa Khám bệnh theo yêu cầu, Bệnh viện Hữu Nghị) cũng chia sẻ thêm về một bệnh nhân mới 23 tuổi, chưa lập gia đình, được phát hiện mắc ung thư vú cách đây khoảng 2 năm.
Nhưng ngay khi được chẩn đoán ung thư vú, bệnh nhân đã chủ động bày tỏ mong muốn sau này vẫn được làm mẹ. Các bác sĩ chuyên khoa ung bướu và sản khoa đã phối hợp thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu cho người bệnh và trữ đông noãn trước khi bước vào quá trình điều trị ung thư.
"Hiện bệnh nhân đã hoàn thành phần lớn liệu trình, chỉ còn điều trị nội tiết và hy vọng sau khi hoàn tất điều trị có thể trở lại với mong muốn lập gia đình, sinh con", BS Phạm Thị Hằng thông tin.
Từ trường hợp bệnh nhân nữ 23 tuổi, bác sĩ Phạm Thị Hằng nhấn mạnh: phụ nữ trẻ mắc ung thư vú không nên tự mặc định rằng mình đã mất cơ hội làm mẹ. Nếu mong muốn có con, hãy nói rõ với bác sĩ ngay từ đầu. Mong muốn đó có thể được đưa vào kế hoạch điều trị để bác sĩ ung bướu phối hợp với bác sĩ sản khoa, cùng tìm giải pháp phù hợp.
Điều trị ung thư trước hết vẫn phải đặt mục tiêu điều trị khỏi bệnh. Nhưng với phụ nữ trẻ, một kế hoạch điều trị tốt không chỉ hướng tới việc vượt qua ung thư mà còn cần tính đến cuộc sống sau điều trị, trong đó có những mong muốn rất đỗi bình dị như lập gia đình và được làm mẹ.
“Phụ nữ mắc ung thư vú vẫn có thể sinh con. Tuy nhiên, những yếu tố quyết định khả năng sinh sản và thời điểm có thai sẽ phụ thuộc vào tuổi tác, dự trữ buồng trứng, đặc điểm sinh học của ung thư và phác đồ điều trị của bệnh nhân. Tuổi tác có ảnh hưởng trực tiếp đến dự trữ buồng trứng. Vì vậy, cùng mắc ung thư vú với đặc điểm bệnh và phác đồ điều trị tương tự, khả năng sinh sản của một phụ nữ 30 tuổi và một phụ nữ khoảng 40 tuổi có thể rất khác nhau.
Bên cạnh đó, đặc điểm sinh học của ung thư sẽ quyết định phác đồ điều trị. Tình trạng thụ thể nội tiết, HER2, giai đoạn bệnh và nguy cơ tái phát đều có thể ảnh hưởng đến lựa chọn điều trị. Từ đó, thời gian điều trị và, khả năng sinh sản và thời điểm mà người bệnh có thể mang thai cũng khác nhau”, BS Phạm Thị Hằng phân tích.
Trong thực tế lâm sàng, bác sĩ Phạm Thị Hằng gặp không ít phụ nữ trẻ ngại chia sẻ mong muốn được làm mẹ sau khi mắc ung thư vú. Lý do là khi nghe chẩn đoán ung thư, nhiều người chỉ nghĩ đến bệnh tật, sự sống còn và nỗi sợ hãi trước mắt. Bệnh nhân có thể coi ung thư như một “bản án tử” và không dám nghĩ hoặc nói về những kế hoạch lâu dài như lập gia đình, sinh con.
Tuy nhiên, điều trị ung thư hiện nay không chỉ hướng đến kéo dài thời gian sống mà còn hướng tới việc giúp người bệnh được chữa khỏi và trở lại cuộc sống bình thường.
Cũng theo bác sĩ Phạm Thị Hằng, điều trị ung thư vú thường là điều trị đa mô thức, có thể bao gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, điều trị đích hoặc điều trị nội tiết, tùy đặc điểm bệnh.
Trong số các phương pháp này, hóa trị có ảnh hưởng đáng kể đến dự trữ buồng trứng. Các thuốc gây độc tế bào ung thư cũng có thể tác động đến buồng trứng, khiến chức năng buồng trứng suy giảm, thậm chí gây vô sinh tạm thời hoặc suy buồng trứng sớm.
Do đó, trước khi bắt đầu điều trị, người bệnh cần được đánh giá cụ thể về tuổi, chức năng buồng trứng, loại thuốc sẽ sử dụng và thời gian điều trị để bác sĩ có thể cân nhắc phương án phù hợp.
Với xạ trị ung thư vú, vùng chiếu thường tập trung ở vú và thành ngực, không phải vùng buồng trứng. Vì vậy, theo bác sĩ Phạm Thị Hằng, xạ trị ung thư vú nhìn chung không gây mất chức năng buồng trứng như xạ trị vùng chậu.
Trong khi đó, điều trị nội tiết không trực tiếp gây độc cho buồng trứng nhưng có thể làm trì hoãn thời điểm mang thai. Với những trường hợp ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính, điều trị nội tiết thường kéo dài nhiều năm. Khoảng thời gian này có thể trở thành một thách thức đối với phụ nữ trẻ bởi dự trữ buồng trứng tiếp tục suy giảm theo tuổi.
Do đó, ngay sau khi được chẩn đoán mắc ung thư vú, nếu có mong muốn sinh con trong tương lai, người bệnh nên chủ động trao đổi với bác sĩ ung bướu. Từ đó, bác sĩ ung bướu có thể phối hợp với bác sĩ sản khoa hoặc chuyên gia về nội tiết sinh sản để đánh giá khả năng mang thai và sinh con sau này để lựa chọn phương án bảo tồn nếu phù hợp.
"Người bệnh có thể được đánh giá tuổi, chức năng buồng trứng thông qua các xét nghiệm như AMH, siêu âm buồng trứng và xem xét phác đồ điều trị ung thư dự kiến. Với những phụ nữ trẻ, một trong những phương pháp có thể được thực hiện là trữ đông noãn. Với phụ nữ đã lập gia đình, có thể cân nhắc trữ đông phôi trước khi bắt đầu điều trị ung thư”, BS Phạm Thị Hằng cho biết.
Khi nào có thể mang thai sau điều trị ung thư vú?
Về thời điểm mang thai sau khi điều trị ung thư vú, BS Phạm Thị Hằng cho biết, không có một mốc thời gian chung áp dụng cho tất cả bệnh nhân mà cần được cá thể hóa dựa trên tuổi, đặc điểm sinh học của ung thư, phác đồ điều trị và việc người bệnh có phải tiếp tục sử dụng các thuốc điều trị kéo dài hay không.
Trước khi quyết định mang thai, người bệnh cần hoàn thành phác đồ điều trị bắt buộc, được bác sĩ đánh giá không có bằng chứng bệnh đang tiến triển và có khoảng thời gian cần thiết để thuốc được đào thải khỏi cơ thể.
Với người chỉ điều trị hóa trị, thời gian điều trị có thể khác với người phải điều trị thuốc đích kháng HER2 kéo dài hơn một năm. Trong khi đó, những trường hợp ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính có thể phải điều trị nội tiết trong khoảng 5 năm. Vì vậy, thời điểm mang thai sẽ phụ thuộc rất nhiều vào kế hoạch điều trị cụ thể của từng người bệnh.
Một vấn đề khiến nhiều phụ nữ lo lắng là liệu mang thai sau điều trị ung thư vú có làm tăng nguy cơ tái phát hay không? Bác sĩ Phạm Thị Hằng cho biết, theo các nghiên cứu hiện nay, với những người đã hoàn thành đầy đủ liệu trình điều trị và được bác sĩ ung bướu đánh giá bệnh đã ổn định, việc mang thai không làm ảnh hưởng đến nguy cơ tái phát. Tuy nhiên, quyết định mang thai vẫn cần có sự đồng hành của bác sĩ ung bướu và bác sĩ sản khoa. Bởi trong quá trình mang thai, người bệnh vẫn cần được theo dõi sát sao nhằm phòng ngừa các nguy cơ có thể xảy ra, đảm bảo an toàn cho và mẹ và thai nhi.
