Trong số 6 Danh nhân Việt Nam được UNESCO vinh danh gồm: Nguyễn Trãi năm 1980, Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990, Nguyễn Du năm 2015, Chu Văn An năm 2019, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Đình Chiểu năm 2021 thì duy nhất chỉ có Danh nhân Hồ Xuân Hương là nữ. Bà là một trong những danh nhân văn hóa có đóng góp lớn cho văn học Việt Nam, không chỉ bởi tài năng thơ ca xuất sắc mà còn bởi những tư tưởng tiến bộ, mạnh mẽ trong việc đấu tranh cho quyền lợi và tự do của phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Hồ Xuân Hương sinh ra và lớn lên tại Quỳnh Lưu, Nghệ An, trong một gia đình có truyền thống học vấn và dòng họ nổi tiếng khoa bảng. Chính vì vậy mà Hồ Xuân Hương đã tiếp thu được những tinh hoa của ông cha. Giữa bối cảnh xã hội phong kiến đầy những ràng buộc và định kiến, bà đã trở thành người phụ nữ đầu tiên không chỉ dám khẳng định mình trong thế giới văn học mà còn mạnh mẽ phản ánh những nghịch lý, bất công của xã hội qua từng câu chữ, từng vần thơ.
Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam, tư tưởng đấu tranh bảo vệ quyền của phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương nổi lên như một tiếng nói hiếm hoi nhưng mạnh mẽ. Bằng ngôn ngữ Nôm giàu tính biểu tượng, giọng điệu trào phúng sắc sảo và tinh thần phản kháng quyết liệt, bà phơi bày những bất công mà người phụ nữ phải gánh chịu trong xã hội phong kiến, từ lễ giáo khắt khe đến số phận hôn nhân bị áp đặt. Thơ Hồ Xuân Hương không chỉ là sự cảm thương mà còn là lời khẳng định giá trị, khát vọng tự do và quyền được sống hạnh phúc của người phụ nữ, thể hiện tư tưởng nhân văn tiến bộ vượt trước thời đại.
"Nữ sĩ Hồ Xuân Hương để lại hai giá trị, một là phẩm cách của một người phụ nữ trong thời đại của bà. Những phẩm cách đấy, tư tưởng đấy nó lại không chỉ dừng lại thời đại bà, nó không kết thúc, nó không chỉ giá trị trong một thời đại bà sống mà kéo dài cho đến tận bây giờ. Những giá trị sống, những quan điểm sống, những khát vọng sống và sự đấu tranh cho những người phụ nữ, cho nữ quyền của bà vẫn còn tiếp tục đến hôm nay. Hai nữa, nghệ thuật thi ca của bà là một nghệ thuật đặc biệt, trong tất cả những di sản thi ca để lại Hồ Xuân Hương là một sự đặc biệt".
Nhà thơ Lữ Mai cho rằng, là người phụ nữ sinh ra và lớn lên trong bối cảnh xã hội cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, Hồ Xuân Hương hiểu hơn ai hết cái “đau đớn” của phận đàn bà mà Nguyễn Du đã nói tới. Đó là thân phận luôn bị trói chặt trong quan điểm Nho giáo khắt khe, luôn chịu nhiều thiệt thòi hơn nam giới, thậm chí dù người phụ nữ đó có là công chúa, hoàng hậu cũng không tự mình chọn cuộc đời và hạnh phúc cho riêng mình.
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn, nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, Hồ Xuân Hương là bậc nữ sĩ kỳ tài, là một hiện tượng đặc sắc của nền văn học trung đại Việt Nam. Bà để lại khoảng 150 bài thơ, bao gồm tập “Lưu Hương ký” (với 24 bài thơ chữ Hán, 28 bài chữ Nôm) cùng 100 bài thơ khác theo phong cách dân gian, phóng túng, thể hiện sự đặc sắc, phong phú của tiếng Việt.
"Hiện nay chúng ta biết là thơ Hồ Xuân Hương đã được dịch sang các thứ tiếng: Anh, Nga, Đức, Bulgari, Trung, Nhật, Hàn… Tính chất đặc sắc ở tất cả các bài thơ nhất là ở thơ Nôm truyền thống làm nên thương hiệu thơ Hồ Xuân Hương. Ở đây có hai phía cạnh: một mặt là sự tiếp nối phát triển đạt đến đỉnh cao của thơ Nôm Đường luật nói chung và một điều nữa là tạo nên ngã rẽ, cái đặc sắc, cái sắc thái Hồ Xuân Hương. Chúng ta nhấn mạnh về những cái giá trị nhân văn, về giá trị tư tưởng và đặc biệt cả phong thái vị nghệ thuật. Vị nghệ thuật ở đây với cái nghĩa là nội dung hướng về nhân văn nhưng mà hình thức nó là chơi chữ".
Hơn hai thế kỷ đã trôi qua, nhưng sự nghiệp văn chương của “bà Chúa thơ Nôm” vẫn là những áng thơ ca kiệt xuất của văn học Việt Nam thời kỳ trung đại, đồng thời là nguồn di sản quý báu của văn hóa dân tộc. Di sản ấy sẽ mãi là niềm tự hào muôn đời với người dân đất Việt, có sức lan tỏa rộng rãi đến với nhiều quốc gia trên thế giới.
