Trong nghệ thuật biểu diễn, việc khai thác chất liệu truyền thống không phải điều mới mẻ. Từ âm nhạc, điện ảnh, thời trang đến mỹ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ đã nỗ lực đưa bản sắc văn hóa dân tộc vào tác phẩm như một cách làm mới ngôn ngữ sáng tạo, đồng thời tạo dấu ấn riêng trong dòng chảy toàn cầu hóa. Tuy nhiên, biểu tượng văn hóa không giống những chi tiết trang trí thông thường.

Từ câu chuyện của nam ca sĩ Sơn Tùng M-TP đứng trên mô hình chim Lạc trong MV "Come My Way", có lẽ điều xã hội cần không phải là những phán xét đúng - sai, mà là một cuộc đối thoại nghiêm túc hơn về cách ứng xử với các biểu tượng văn hóa trong đời sống nghệ thuật hôm nay.

Xung quanh vấn đề này, phóng viên VOV2 đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.

PV: Thưa PGS.TS Bùi Hoài Sơn! Những ngày qua, hình ảnh ca sĩ Sơn Tùng M-TP trong một tiết mục biểu diễn với chi tiết đứng trên mô hình chim Lạc đã tạo nên nhiều tranh luận trong dư luận. Có người coi đây là sáng tạo nghệ thuật, nhưng cũng có ý kiến bày tỏ sự không đồng tình vì cho rằng thiếu sự tôn trọng với biểu tượng văn hóa của dân tộc. Quan điểm của ông thì sao?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng trước hết cần nhìn câu chuyện này bằng một thái độ bình tĩnh, khách quan và có tinh thần đối thoại. Chim Lạc là một biểu tượng rất đẹp trong tâm thức văn hóa Việt Nam, gắn với trống đồng Đông Sơn, với ký ức cội nguồn, với khát vọng bay lên của dân tộc. Vì thế, khi công chúng băn khoăn trước một cách thể hiện mới, thậm chí thấy cần phải lên tiếng để bảo vệ sự trang nghiêm của biểu tượng, đó là phản ứng có thể hiểu được và cũng rất đáng trân trọng.

Tuy nhiên, tôi nghĩ cũng không nên vội vàng quy kết mọi thử nghiệm nghệ thuật là xúc phạm hay phản cảm. Nghệ thuật có ngôn ngữ riêng, nhiều khi sử dụng hình ảnh biểu tượng theo nghĩa ẩn dụ, trình diễn, thị giác, chứ không phải theo nghĩa đen của đời sống thường ngày. Nếu đặt trong tổng thể sản phẩm của Sơn Tùng M-TP, có thể thấy mục đích lớn hơn là đưa các chất liệu văn hóa Việt Nam vào một không gian âm nhạc hiện đại, có tính quốc tế, từ đó khơi gợi sự chú ý của công chúng trẻ và bạn bè thế giới đối với hình ảnh Việt Nam.

Vì vậy, theo tôi, điều cần thiết không phải là cực đoan hóa tranh luận, mà là biến tranh luận thành một cuộc đối thoại văn hóa văn minh. Công chúng có quyền góp ý, nghệ sĩ có trách nhiệm lắng nghe. Còn xã hội cần có thái độ vừa khuyến khích sáng tạo, vừa nhắc nhở sự cẩn trọng khi sử dụng những biểu tượng có chiều sâu lịch sử, văn hóa và tâm linh.

PV: Tuy nhiên, với một nghệ sĩ có sức ảnh hưởng lớn như Sơn Tùng M-TP, trách nhiệm xã hội có cần đặt ra cao hơn không, thưa ông?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Chắc chắn là có. Một nghệ sĩ càng có sức ảnh hưởng lớn thì trách nhiệm xã hội càng cao. Với những nghệ sĩ như Sơn Tùng M-TP, mỗi sản phẩm không còn chỉ là câu chuyện cá nhân hay phạm vi người hâm mộ, mà có thể tạo thành xu hướng, định hình thẩm mỹ, tác động đến nhận thức của giới trẻ và góp phần tạo nên hình ảnh Việt Nam trong mắt công chúng quốc tế.

Chính vì vậy, khi sử dụng các biểu tượng văn hóa, đặc biệt là biểu tượng gắn với cội nguồn dân tộc, nghệ sĩ cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng hơn. Trách nhiệm xã hội ở đây không phải là làm cho nghệ sĩ mất tự do sáng tạo, càng không phải là đặt nghệ thuật vào khuôn mẫu cứng nhắc. Trách nhiệm xã hội là hiểu rằng sáng tạo của mình có khả năng lan tỏa rất lớn, nên cần được nâng đỡ bằng tri thức, sự tôn trọng và sự nhạy cảm văn hóa.

Tôi vẫn đánh giá cao nỗ lực của Sơn Tùng M-TP khi đưa văn hóa Việt Nam vào sản phẩm âm nhạc đại chúng. Nhưng chính vì anh là một nghệ sĩ lớn, được công chúng trẻ yêu mến, nên mỗi chi tiết sáng tạo càng cần được cân nhắc sâu hơn. Khi làm tốt, nghệ sĩ không chỉ tạo ra một MV thành công, mà còn có thể trở thành một “đại sứ văn hóa” theo nghĩa rộng, góp phần lan tỏa sức mạnh mềm Việt Nam bằng ngôn ngữ của âm nhạc, thời trang, hình ảnh và công nghệ.

PV: Trong nghệ thuật, sáng tạo luôn là yếu tố sống còn. Nhưng khi chất liệu sáng tạo là những biểu tượng văn hóa thiêng liêng, câu chuyện dường như trở nên phức tạp hơn. Vậy, ranh giới giữa sáng tạo, phá cách với sự tôn trọng biểu tượng văn hóa nên được nhìn nhận ra sao?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, ranh giới ấy nằm ở ba yếu tố: hiểu biết, thái độ và hiệu ứng văn hóa. Nghệ sĩ có thể phá cách, có thể làm mới, có thể đưa biểu tượng truyền thống vào những bối cảnh rất hiện đại. Điều đó là cần thiết, bởi nếu di sản chỉ được giữ nguyên trong bảo tàng, trong sách vở hay trong nghi lễ, thì di sản rất dễ trở nên xa lạ với giới trẻ. Văn hóa muốn sống phải được tiếp tục sáng tạo.

Nhưng phá cách không có nghĩa là tùy tiện. Với những biểu tượng thiêng, biểu tượng lịch sử, biểu tượng gắn với căn cước dân tộc, nghệ sĩ cần hiểu rõ mình đang sử dụng điều gì, ý nghĩa của nó ra sao, cộng đồng tiếp nhận nó như thế nào. Một sáng tạo phù hợp là sáng tạo làm cho biểu tượng được hiểu sâu hơn, được yêu hơn, được tự hào hơn. Ngược lại, một cách dùng chưa phù hợp là khi biểu tượng bị biến thành đạo cụ gây sốc, bị tầm thường hóa hoặc bị đặt vào những ngữ cảnh làm giảm phẩm giá văn hóa vốn có.

Nhiều quốc gia đã làm rất tốt việc chuyển hóa truyền thống thành sức mạnh mềm. Hàn Quốc đưa hanbok, cung điện, âm nhạc dân gian, chữ Hangeul vào K-pop, phim ảnh, thời trang. Nhật Bản đưa samurai, kimono, ukiyo-e, trà đạo, Thần đạo vào anime, game và thiết kế đương đại. Thành công của họ không đến từ việc sao chép truyền thống nguyên trạng, mà từ khả năng làm mới truyền thống trên nền tảng hiểu biết sâu sắc. Đó cũng là bài học quan trọng với nghệ sĩ Việt Nam: muốn đi xa bằng văn hóa dân tộc, trước hết phải hiểu và yêu văn hóa dân tộc một cách nghiêm túc.

PV: Qua câu chuyện của Sơn Tùng M-TP, tôi nghĩ quan trọng không phải là đúng sai mà là làm sao để văn hóa truyền thống vừa được tôn trọng, vừa trở thành nguồn cảm hứng sống động trong sáng tạo đương đại. Vậy theo ông, cần phải có những nguyên tắc hay những quy định ra sao trong ứng xử với biểu tượng văn hóa trên sân khấu nghệ thuật?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi nghĩ trước hết cần những nguyên tắc văn hóa mềm, trước khi nghĩ đến các quy định hành chính cứng. Nghệ thuật cần không gian tự do để sáng tạo. Nếu quá lo sợ tranh cãi, nghệ sĩ sẽ ngại chạm vào di sản, và như vậy vô tình làm cho văn hóa truyền thống xa dần đời sống đương đại. Nhưng tự do sáng tạo cũng cần đi cùng trách nhiệm, đặc biệt khi biểu tượng được sử dụng có giá trị lịch sử, tín ngưỡng, tâm linh hoặc đại diện cho căn cước quốc gia.

Theo tôi, có mấy nguyên tắc rất quan trọng. Thứ nhất là nguyên tắc hiểu biết: trước khi sử dụng biểu tượng văn hóa, ê-kíp cần nghiên cứu nghiêm túc, hiểu nguồn gốc, ý nghĩa, bối cảnh và mức độ thiêng của biểu tượng. Thứ hai là nguyên tắc tôn trọng: dù có phá cách đến đâu, cách thể hiện cũng không nên làm biểu tượng bị hạ thấp, giễu nhại hoặc méo mó. Thứ ba là nguyên tắc tham vấn: với những biểu tượng nhạy cảm, nên có sự trao đổi với chuyên gia văn hóa, lịch sử, mỹ thuật, bảo tàng, di sản. Thứ tư là nguyên tắc đối thoại: khi có tranh luận, nghệ sĩ và công chúng cần lắng nghe nhau thay vì đẩy câu chuyện thành đối đầu.

Về mặt quản lý, tôi cho rằng không nên tạo thêm những rào cản khiến nghệ sĩ e ngại sáng tạo. Điều cần hơn là xây dựng bộ quy tắc ứng xử, tài liệu hướng dẫn, cơ chế tham vấn và môi trường phê bình văn hóa lành mạnh. Chúng ta cần giúp nghệ sĩ biết cách khai thác di sản đúng hơn, sâu hơn, đẹp hơn, chứ không làm cho họ sợ di sản.

Nhìn tích cực, câu chuyện lần này cũng là một cơ hội. Nhờ tranh luận, nhiều người trẻ bắt đầu tìm hiểu chim Lạc là gì, trống đồng Đông Sơn có ý nghĩa như thế nào, vì sao biểu tượng văn hóa cần được trân trọng. Nếu từ một MV, công chúng quan tâm hơn đến di sản, nghệ sĩ ý thức hơn về trách nhiệm sáng tạo, và xã hội có thêm một cuộc đối thoại văn hóa văn minh, thì đó là điều đáng mừng. Văn hóa truyền thống chỉ thật sự sống khi được yêu, được hiểu và được tiếp tục sáng tạo trong đời sống hôm nay.

Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Bùi Hoài Sơn!