Việt Nam là quốc gia giàu bản sắc văn hóa với kho tàng di sản đồ sộ. Hàng chục nghìn di tích lịch sử - văn hóa, hàng nghìn lễ hội truyền thống cùng nhiều di sản được quốc tế ghi danh đã tạo nên nguồn tài nguyên văn hóa phong phú. Không ít địa phương đã biết khai thác giá trị di sản để tạo sinh kế, thúc đẩy du lịch và phát triển kinh tế địa phương. Bởi trong bối cảnh hiện nay, di sản không chỉ cho chúng ta biết mình đã đi qua đâu, mà còn gợi mở chúng ta sẽ đi về đâu. Di sản không chỉ là quá khứ, mà còn là vốn liếng để bước vào tương lai.

Kinh tế di sản là một tư duy phát triển văn hóa hiện đại, trong đó di sản được nhìn nhận như một tài sản văn hóa đặc biệt: vừa có giá trị lịch sử, tinh thần, giáo dục, biểu tượng, vừa có khả năng tạo ra sinh kế, việc làm, sản phẩm sáng tạo, thương hiệu địa phương, sức hấp dẫn du lịch và sức mạnh mềm quốc gia. GS.TS. Nguyễn Văn Kim, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia cho rằng, quá trình “kinh tế hóa văn hóa” và “văn hóa hóa kinh tế” đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Văn hóa phải trở thành năng lượng bên trong của phát triển, thành sức mạnh điều chỉnh phát triển, thành nguồn lực tạo ra tương lai.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, di sản không chỉ để tự hào, mà còn để sáng tạo. Di sản không chỉ để tưởng nhớ, ghi danh mà còn để phát triển. Việc phát triển kinh tế di sản có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong giai đoạn phát triển mới. Ở đó chúng ta không chỉ hướng đến những giá trị lợi ích kinh tế của di sản mà còn để cho di sản đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển chung của đất nước, trong việc giáo dục tình yêu quê hương đất nước, gia tăng sức mạnh mềm của quốc gia, tạo nên niềm tin ở trong xã hội.

Điều đáng nói, giá trị của kinh tế di sản tạo ra không chỉ nằm ở doanh thu. Đó còn là khả năng lan tỏa các giá trị văn hóa, củng cố bản sắc cộng đồng, tạo dựng niềm tự hào và gia tăng sức hấp dẫn của quốc gia trong mắt bạn bè quốc tế. Một đô thị cổ được bảo tồn tốt có thể trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn; một lễ hội truyền thống nếu được tổ chức bài bản sẽ tạo ra giá trị kinh tế lớn từ dịch vụ, lưu trú, thương mại; một làng nghề truyền thống khi kết hợp với du lịch trải nghiệm có thể tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân.

Chuyên gia du lịch TS nguyễn Thị Phương Nga cho rằng khi tiềm năng di sản được khai thác đúng cách sẽ trở thành thế mạnh của du lịch văn hóa và sẽ mang lại những hiệu quả vô cùng to lớn. Không chỉ đóng góp doanh thu cho nền kinh tế đất nước mà còn phát triển các ngành công nghiệp văn hóa khác. Bản chất văn hóa là những giá trị của mỗi một dân tộc, khi lan tỏa các giá trị văn hóa đó thông qua hoạt động du lịch sẽ góp phần tạo ra được yếu tố bảo tồn, nhưng đồng thời phát huy được các hoạt động của du lịch và trở thành một quy luật phù hợp với xã hội đương đại.

Trong nhiều năm qua, câu chuyện bảo tồn di sản ở nước ta chủ yếu đặt trọng tâm vào việc giữ gìn nguyên trạng. Đây là điều cần thiết, bởi di sản một khi mất đi sẽ không thể phục hồi. Tuy nhiên, nếu chỉ bảo tồn theo cách “đóng khung”, coi di sản như hiện vật trưng bày mà chưa đặt trong mối quan hệ với đời sống đương đại thì giá trị của di sản khó có thể được phát huy đầy đủ. Theo TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Văn hóa - Xã hội , Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát triển kinh tế di sản không phải để biến văn hóa thành hàng hóa, mà để biến văn hóa thành nguồn lực, thành sinh kế, thành niềm tin, thành sức mạnh phát triển của đất nước.

Nước ta đang đứng trước cơ hội lớn để đưa di sản trở thành một trụ cột của công nghiệp văn hóa và du lịch chất lượng cao. Khi di sản được đánh thức đúng cách, di sản sẽ không chỉ kể lại câu chuyện của cha ông, mà còn góp phần viết tiếp câu chuyện của một dân tộc biết trân trọng quá khứ, tự tin trong hiện tại và bản lĩnh bước vào tương lai.