Dòng họ Nguyễn tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang xưa (nay là xã Trường Lưu, tỉnh Hà Tĩnh) hồi giữa thế kỷ 18 có một danh sĩ ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động và thắng lợi chung của phong trào Tây Sơn, đó chính là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp.
Trong hàng các danh nhân lịch sử của dân tộc ta, có 2 người được phong là bậc “phu tử” đó là Tuyết Giang Phu tử Nguyễn Bỉnh Khiêm và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp. Về con đường khoa cử, Nguyễn Thiếp không phải là người đỗ đạt tuyệt đỉnh như Tuyết Giang Phu tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhưng, dù là một ẩn sĩ, La Sơn Phu tử vẫn có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước, nhất là dưới thời vua Quang Trung.
Theo sử sách ghi lại, Nguyễn Thiếp sinh năm 1723, người xã Nguyệt Ao, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang (nay là xã Trường Lưu, tỉnh Hà Tĩnh). Cha của Nguyễn Thiếp là Quản lĩnh Nguyễn Quang Trạch, mẹ là người họ Nguyễn cùng làng. Theo tư liệu của GS.TSKH Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, quê hương của Nguyễn Thiếp nổi tiếng là miền đất có nhiều bậc trí giả của đất nước. Ông nội, ông ngoại, chú và cậu của của Nguyễn Thiếp đều học giỏi, đỗ cao, nổi tiếng một vùng.
Nguyễn Thiếp vốn có tên húy là Minh, tự là Quang Thiếp, sau vì kiêng húy vua chúa nên đổi là Thiếp. Ngoài ra, ông còn có rất nhiều tên hiệu như: Khải Xuyên, Hạnh Am, Điên ẩn, Cuồng Ẩn, Lạp Phong cư sĩ… Riêng vua Quang Trung gọi ông là La Sơn phu tử hay là La Sơn tiên sinh.
Lúc nhỏ, Nguyễn Thiếp và ba anh em trai do có mẹ và chú là Tiến sĩ Nguyễn Hành rèn dạy nên đều học giỏi. Năm 19 tuổi, Nguyễn Thiếp được chú gửi cho bạn thân là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm (cha của thi hào Nguyễn Du) dạy dỗ thêm. Tuy nhiên, chưa được một năm thì chú Nguyễn Hành đột ngột mất ở lỵ sở, Nguyễn Thiếp trở về nhà.
Năm 20 tuổi, Nguyễn Thiếp đỗ Hương giải, được bổ làm Huấn Đạo rồi thăng Tri huyện Thanh Chương, Nghệ An. Làm quan giữa thời buổi nhiễu nhương, Đàng Ngoài rối loạn, Nguyễn Thiếp ngày càng chán ngán. Ông đã từ quan, về lập trại Bùi Phong dưới chân núi Thiên Nhẫn ở Nam Đàn, làm vườn và dạy học. Tuy La Sơn phu tử đã về ở ẩn, nhưng vẫn đau đáu với việc dân, việc nước.
Đương thời, Nguyễn Thiếp nổi tiếng là người đạo cao đức trọng, học vấn uyên thâm, được giới sỹ phu và Vua Chúa kính nể. Tuy đã về ở ẩn, nhưng tiếng tăm của ông thì ai cũng biết, vang động đến cả kinh kì, chúa Trịnh Sâm nhiều lần mời ra Kinh đô để trọng dụng nhưng ông đều từ chối.
Những giai thoại về công trạng của Nguyễn Thiếp được ghi chép nhiều trong sử sách. La Sơn Phu tử đã trải qua 3 triều đại, đặc biệt là giai đoạn hợp tác với nhà Tây Sơn. Khi được vua Quang Trung hỏi ý kiến về việc đánh quân Thanh, La Sơn Phu tử có “một lời nói mà dấy nổi cơ đồ”, có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thạc, hậu duệ đời thứ 16 dòng họ Nguyễn xã Trường Lưu, tỉnh Hà Tĩnh kể lại: “Trong lần cầm quân ra Bắc, Quang Trung cho quân nghỉ tại Nghệ An và đến thăm Nguyễn Thiếp, hỏi ý kiến về việc đánh quân xâm lược nhà Thanh. Nguyễn Thiếp đã trả lời rằng: “Việc quân quý ở thần tốc. Nếu đánh ngay thì thắng trong 10 ngày, nếu không đánh ngay thì không bao giờ thắng”. Câu nói này rất hợp ý với Quang Trung nên vua ban lệnh hành quân thần tốc. Và kết quả là chiến thắng tại Đống Đa mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789”.
Sau đại thắng vào đầu xuân Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung về đến Nghệ An lại mời Nguyễn Thiếp đến bàn quốc sự. Năm 1791, vua Quang Trung lại cho mời ông vào Phú Xuân để bàn việc nước. Vì cảm thái độ chân tình ấy, nên lần thứ 3 này Nguyễn Thiếp đã nhận lời. Ông đã dâng lên vua Quang Trung một bản tấu bàn về 3 vấn đề: Một là "Quân đức" - đại ý khuyên vua nên theo đạo Thánh hiền để trị nước; hai là "Dân tâm" - đại ý khuyên vua nên dùng nhân chính để thu phục lòng người và ba là "Học pháp" - đại ý khuyên vua chăm lo việc giáo dục.
La Sơn phu tử hợp tác với nhà Tây Sơn như một lẽ tự nhiên. Ban đầu là vì nghĩa cử, khi có giặc ngoại xâm thì sẵn sàng dẹp bỏ mọi niềm riêng vì nghĩa nước. Cuối cùng mới nhận chức đứng đầu Sùng Chính Viện - như Thượng thư bộ học - góp phần cải cách nền giáo dục lúc bầy giờ. PGS. TS Biện Minh Điền, Trường Đại học Vinh nhận định: "Quan điểm về đạo học của La Sư Phu Tử Nguyễn Thiếp nhiều điểm đến nay vẫn mang tính thời sự nóng bỏng".
Dù chỉ làm quan triều Lê tới chức Tri huyện rồi giữa chừng treo ấn từ quan về sống ẩn dật trên núi Thiên Nhẫn, nhưng La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp được xem là “vị quân sư tối cao của Hoàng đế Quang Trung”. Năm 1802, khi triều Tây Sơn bị sụp đổ, Nguyễn Thiếp quyết định lui về lại trại Bùi Phong. Gia phả họ Nguyễn ở Mật Thôn - Nguyệt Ao, chép rằng: “Cụ ở lại trên núi, tự lấy làm vui, không bận lòng đến việc trần ai nữa”.
Không chỉ dạy học và quân sư nhiều quyết sách cho vua Quang Trung, Nguyễn Thiếp còn để lại một số tác phẩm thơ văn với những tư tưởng tiến bộ. Theo sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú, sự nghiệp trước tác của La Sơn Phu tử có hàng trăm bài thơ cùng nhiều tác phẩm như: “La Sơn tiên sinh thi tập” (còn có tên là “Hạnh Am thi cảo”); tác phẩm “Hạnh Am di văn” gồm một số bài văn của Nguyễn Thiếp phúc đáp, cáo từ, trần tình, tạ ơn... gửi vua Quang Trung. Qua thơ văn của La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp cho thấy, dù sống ẩn dật nhưng vẫn thấy tấm lòng của ông gắn bó với đời, với quê hương, đau đáu vì cảnh suy vi của thế thái nhân tình.
La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp tạ thế vào ngày 25 tháng Chạp năm Quý Hợi (tức 06/2/1804). Cảm kích trước tài năng, đức độ của Nguyễn Thiếp, khi ông mất, nhân dân đã lập đền thờ ông ở quê hương ông xã Trường Lưu, tỉnh Hà Tĩnh. Hàng năm, người dân địa phương và vùng lân cận đều về đây để dâng nén hương tưởng nhớ tới danh sĩ. Phần mộ của ông được song táng cùng với phần mộ của bà chính thất Đặng Thị Nghi tại nơi ẩn cư trên núi Bùi Phong. Năm 1994, mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã được xếp hạng là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia.
