Theo Bộ VHTTDL, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP Việt Nam trong cả giai đoạn 2018 - 2025 ước đạt 4-5%, còn khoảng cách rất xa so với mục tiêu đặt ra đến năm 2030 tối thiểu 7%, khó có thể bứt phá nếu không có một “cú huých” về mặt chính sách kiến tạo của Nhà nước. Kết quả khảo sát, rà soát, đánh giá, nghiên cứu, tổng hợp cho thấy: Các luật chuyên ngành đã hoàn thiện hành lang pháp lý để quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, chưa có các chính sách mang tính kiến tạo để thúc đẩy phát triển kinh tế, nên còn có sự đứt gãy ở từng khâu trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Hiện đang thiếu một văn bản luật đưa ra chính sách từ góc nhìn giá trị kinh tế để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa bằng cách kết nối liên ngành: Văn hoá với sáng tạo, sáng tạo với quyền; quyền với vốn; vốn với sản xuất; sản xuất với phân phối; phân phối với doanh thu; doanh thu với tái đầu tư và xuất khẩu.
Vì vậy, thực tiễn khách quan và yêu cầu phát triển đặt ra cần thiết và cấp thiết xây dựng, ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Việc chậm ban hành Luật là một trong những nguy cơ, rủi ro làm cho tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP Việt Nam không đạt mục tiêu đặt ra là 7% theo Nghị quyết số 80 ngày 07/01/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV, ảnh hưởng chung tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Bộ VHTTDL được giao nghiên cứu, xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa theo trình tự, thủ tục rút gọn, trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp tháng 10/2026.
Việc xây dựng dự án Luật nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam.
Phát biểu tại hội thảo, ông Phạm Cao Thái - Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ VHTTDL cho biết, Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tương đối khó và mang tính đặc thù cao. Mặt khác, về mặt nội dung, mặc dù khái niệm "phát triển công nghiệp văn hóa" đã xuất hiện trong Nghị quyết của Đảng, nhưng khi đưa vào luật vẫn là một khái niệm rất mới và bao trùm lên nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác nhau. Thử thách lớn nhất đối với Ban soạn thảo là làm sao để các quy định trong luật vừa có sự giao thoa, gắn kết nhưng tuyệt đối không gây chồng chéo với các luật chuyên ngành đã có từ trước.
Ông Bùi Nguyên Hùng, Chủ tịch Hiệp hội sáng tạo và bản quyền tác giả Việt Nam đề xuất góp ý tại khoản 2 Điều 3 liệt kê 10 ngành: Điện ảnh; Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Nghệ thuật biểu diễn; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Quảng cáo; Thủ công mỹ nghệ; Du lịch văn hóa; Thiết kế sáng tạo; Truyền hình và phát thanh; Xuất bản. Dự thảo bám sát Chiến lược hiện hành là lựa chọn đúng, bảo đảm tính thống nhất giữa Luật và văn bản chiến lược đang có hiệu lực (Quyết định số 2486 ngày 14/11/2025).
So với Chiến lược 1755 ngày 8/9/2016 (Chính phủ xác định 12 ngành), danh mục đã được thu hẹp, không còn 2 ngành kiến trúc và thời trang. Đây là 2 ngành được thông lệ quốc tế xếp vào nhóm công nghiệp văn hóa - sáng tạo, cả trong cách tiếp cận của UNESCO lẫn hệ thống phân loại công nghiệp sáng tạo của Vương Quốc Anh và trên thực tế đều có giá trị kinh tế, giá trị xuất khẩu đáng kể. Việc thu hẹp danh mục đồng nghĩa với việc các chủ thể trong 2 ngành này không thuộc đối tượng thụ hưởng chính sách khi Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa được ban hành.
Vấn đề then chốt mang tính chiến lược trong đạo luật, theo ông Lê Quốc Vinh, Ủy viên thường vụ, Trưởng ban lý luận, Hiệp hội phát triển công nghiệp văn hóa, vấn đề định nghĩa "công nghiệp văn hóa" tại Điều 3 của Dự thảo đã thể hiện được định hướng coi công nghiệp văn hóa là một hệ thống hoạt động kinh tế tạo ra đồng thời giá trị kinh tế, xã hội và văn hóa. Tuy nhiên, so với các cách tiếp cận phổ biến của UNESCO, UNCTAD và một số quốc gia phát triển công nghiệp sáng tạo, định nghĩa hiện nay cần làm rõ hơn bản chất công nghiệp và thị trường của khái niệm này.
Các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam bao gồm: (1) Điện ảnh; (2) Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; (3) Nghệ thuật biểu diễn; (4) Phần mềm và các trò chơi giải trí; (5) Quảng cáo; (6) Thủ công mỹ nghệ; (7) Du lịch văn hóa; (8) Thiết kế sáng tạo; (9) Truyền hình và phát thanh; (10) Xuất bản và (11) ngành khác theo quy định của Chính phủ. Mỗi ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã và đang chịu điều chỉnh của một hoặc nhiều luật chuyên ngành khác nhau.
Vì vậy, theo Bộ VHTTDL, để đảm bảo khả thi, đồng bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, phương pháp xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên nguyên tắc: Tiếp cận công nghiệp văn hóa là chuỗi giá trị để thúc đẩy phát triển từ góc độ phát triển một ngành kinh tế chiến lược, không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính. Không quy định lại những chính sách mà các luật chuyên ngành và các luật khác đã quy định. Không cầu toàn, không cố gắng giải quyết mọi vấn đề, mà chọn lọc một số vấn đề quan trọng mang tính then chốt để ưu tiên giải quyết theo hướng: “Điểm mờ” mà các luật chuyên ngành chưa cụ thể hoá, đặc biệt là trong khâu tổ chức thực thi. “Khoảng trống” mà các luật chuyên ngành chưa có, nhưng không trái với luật chuyên ngành. “Điểm nghẽn” trong hệ thống pháp luật đã chín, đã rõ, nhận được sự đồng thuận cao, để tháo gỡ.
Việc lấy ý kiến đối với Dự thảo Luật sẽ góp phần hoàn thiện các quy định, bảo đảm tính khả thi, đồng bộ và phù hợp với yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa trong giai đoạn mới, đồng thời, tạo động lực quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam.
Dự kiến, ngày 12/8, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực miền Trung.
