Sáng 28/3, Trung tâm Hoạt động Văn hóa, Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Ban liên lạc họ Mạc tại Hà Nội tổ chức Lễ kỷ niệm 680 năm ngày mất của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và tọa đàm về thân thế, sự nghiệp và những đóng góp của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi.
Mạc Đĩnh Chi tên tự Tiết Phu, quê tại làng Lũng Động, huyện Chí Linh, (nay thuộc thôn Long Động, xã Hợp Tiến, thành phố Hải Phòng). Ông là cháu đời xa của Mạc Hiển Tích, viễn tổ của Mạc Đăng Dung. Năm Giáp Thìn (1304), ông thi đỗ Trạng Nguyên khoa thi Thái học sinh dưới niên hiệu Hưng Long, đời vua Trần Anh Tông, sau đó ông được ban Thái học sinh hoả dũng thủ, sung chức Nội thư gia, sau thăng Đại liêu ban Tả bộc xạ.

Phát biểu khai mạc, TS Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa, Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho biết, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi là một trong những trí thức xuất sắc của thời Trần. Xuất thân trong hoàn cảnh không thuận lợi, nhưng bằng ý chí và nghị lực phi thường, ông đã vươn lên đỗ đầu khoa thi năm 1304, trở thành biểu tượng tiêu biểu của tinh thần hiếu học và khát vọng lập thân bằng con đường khoa cử. Cuộc đời của ông là minh chứng sinh động cho lý tưởng của kẻ sĩ: học để lập thân, để phụng sự đất nước và để lưu danh bằng chính nhân cách của mình.

TS sử học Nguyễn Hữu Tâm - Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Trung Quốc, Đại học Đại Nam; nguyên Giám đốc Thư viện Viện Sử học cho biết, trong sự nghiệp làm quan, Mạc Đĩnh Chi đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng, tham gia hoạt động bang giao, nổi bật với tài năng ứng đối, học vấn uyên thâm, ông đã làm vẻ vang cho đất nước. Tài ngoại giao của Mạc Đĩnh Chi được thể hiện nổi bật trong 2 lần ông đi sứ sang triều nhà Nguyên. Khi sang sứ, do dung mạo không được ưa nhìn, ông từng bị phía triều đình phương Bắc xem thường. Tuy nhiên, bằng tài đối đáp sắc sảo và kiến thức uyên thâm, ông đã khiến họ phải khâm phục.

Không chỉ giỏi ứng đối, Mạc Đĩnh Chi còn thể hiện sự khéo léo trong việc bảo vệ danh dự Đại Việt. Ông luôn giữ thái độ điềm tĩnh, mềm mỏng nhưng kiên quyết, vừa tôn trọng lễ nghi bang giao, vừa không để nước mình bị lép vế. Chính sự kết hợp giữa trí tuệ, bản lĩnh và lòng tự tôn dân tộc đã giúp ông hoàn thành xuất sắc sứ mệnh ngoại giao, trở thành một trong những sứ thần tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam.

Theo PSG.TS. Trần Đức Cường - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi được phong Lưỡng quốc Trạng nguyên trong thời gian đi sứ tại Yên Kinh (Trung Quốc) - Thủ đô của triều Nguyên lúc đó. Một lần, vua Nguyên ra câu đối để thử tài Mạc Đĩnh Chi là: “Nhật hỏa, vân yên, bạch đản thiêu tàn ngọc thố”, nghĩa là “Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày thiêu cháy mặt trăng (Ngụ ý: Nhà Nguyên là cường quốc, luôn dễ dàng tiêu diệt các nước nhỏ như Đại Việt). Với lòng tự tôn dân tộc, Mạc Đĩnh Chi ứng đối là: “Nguyệt cung tinh đan, hoàng hôn xạ lạc kim ô”. Nghĩa là: “Mặt trăng là cung, sao là đạn, hoàng hôn bắn rụng Mặt trời” (Ý nói đất nước nhỏ cũng có thể đánh bại nước lớn). Vua Nguyên nghe xong tức lắm, nhưng phải khen ngợi tài ứng đối của vị trạng nguyên Đại Việt.

Tại Yên Kinh (Trung Quốc) với tài ứng đối thông minh, sắc sảo, ông được các quan lại nhà Nguyên phục tài. Vua Nguyên hết sức ngợi khen, lúc về ban thưởng rất hậu nhưng ông nhất mực từ chối không nhận một thứ gì. Khi chầu vua Nguyên, Mạc Đĩnh Chi đã làm bài minh dâng lên và được vua Nguyên khen ngợi rồi viết bên lề bài minh bốn chữ: “Lưỡng quốc Trạng nguyên”.

Lễ kỷ niệm “680 năm ngày mất Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1346 - 2026) là hoạt động có ý nghĩa thiết thực, nhằm tôn vinh Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, góp phần lan tỏa truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng nhân tài.

Năm Thiệu Phong thứ 6 (1346) Mạc Đĩnh Chi lâm bệnh và qua đời ngày 10 tháng 02 năm Bính Tuất. Vua Dụ Tông (1341-1369) hay tin Mạc Đĩnh Chi tạ thế vô cùng thương tiếc, sai các quan về dự tế, phong ông làm Phúc Thần, cấp 500 quan tiền cho dân sở tại dựng đền thờ, (tục gọi đền Quan Trạng) và sắc phong ông làm Thành Hoàng. Sau này, khi Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) lên ngôi hoàng đế có truy tôn Mạc Đĩnh Chi là Kiến Thủy Khâm Minh Văn Hoàng Đế. Đền thờ Mạc Đĩnh Chi không chỉ là công trình có ý nghĩa lịch sử và văn hóa tâm linh mà còn là nơi giáo dục truyền thống hiếu học, truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.