Thượng thư Ninh Tốn sinh năm 1744, hiệu là Mẫn Hiên, hay Chuyết Sơn cư sĩ, sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Ông từng được theo học ở kinh đô Thăng Long. Năm 19 tuổi, ông thi đỗ Hương Cống, tương đương với bằng Cử nhân hiện nay. Ông có biệt tài làm thơ và từng để lại nhiều bút tích trên những vách núi đá, nơi ông từng đặt chân.

- Thượng thư Ninh Tốn sinh ra tại thôn Côi Trì, xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình cũ, nay xã Yên Mạc, tỉnh Ninh Bình trong một gia đình có truyền thống khoa bảng.

- Ông sớm bộc lộ tài năng văn chương, từng được chúa Trịnh Sâm triệu vào triều trọng dụng nhờ những bài thơ để lại trên vách núi đá.

- Trong sự nghiệp làm quan triều Lê, ông là người thanh liêm, từng dâng tấu giúp vua chấn chỉnh nạn thu thuế bất hợp pháp để cứu dân.

- Ninh Tốn đã quyết định rời bỏ triều đình Lê - Trịnh đang suy thoái để đi theo vua Quang Trung, giữ chức Thượng thư Bộ binh và có nhiều đóng góp cho quốc phòng.

- Tư tưởng của ông được đánh giá là tiến bộ khi biết đặt lợi ích của nhân dân và thời thế lên trên lòng trung quân lỗi thời đối với một triều đại đã suy tàn.

- Nhiều bút tích và bài thơ của ông hiện vẫn được lưu giữ trên các vách đá tại núi Voi (Chuyết Sơn) và tại di tích nhà thờ họ Ninh ở quê nhà.

Từ một Tiến sĩ triều Lê nổi tiếng với tài văn chương và lòng thương dân, Thượng thư Ninh Tốn đã có bước ngoặt lịch sử khi quyết định đi theo nghĩa quân Tây Sơn và vua Quang Trung. Qua các di tích văn bia và tư liệu lịch sử, chân dung một vị quan coi trọng chữ "dân" hơn chữ "trung" hạn hẹp đã hiện lên rõ nét, khẳng định tầm vóc của ông trong lịch sử dân tộc.

Trong lịch sử Việt Nam thời Lê Trung Hưng, Ninh Tốn là một nhân vật tiêu biểu hội tụ nhiều phẩm chất của một tri thức Nho học dấn thân, để lại nhiều dấu ấn trên nhiều phương diện khác nhau. Không chỉ là một vị quan thanh liêm, tận tuỵ, ông còn được biết đến với vai trò nhà viết sử, nhà thơ và nhà quân sự, phản ánh rõ nét hình mẫu kẻ sĩ “văn võ kiêm toàn” trong bối cảnh lịch sử nhiều biến động của thế kỷ XVIII.

Năm 35 tuổi, Ninh Tốn thi đỗ Tiến sĩ và tiếp tục được giao nắm giữ chức vụ quan trọng thuộc hàm tứ phẩm trong triều đình nhà Lê, chuyên phụ trách việc binh, giữ sổ thuế tô. Theo đó, ông từng dâng tấu trình lên nhà vua về các tệ nạn thu thuế thủy sản bất hợp pháp ở các vùng dân cư ven biển, làm cho dân tình khổ sở. Từ đó, vua đã có lệnh chấn đốn kịp thời. Với nhiều công lao đóng góp, ông đã được nhà vua ban các sắc phong thời bấy giờ.

"Thượng thư Ninh Tốn là một danh nhân rất đa tài, văn võ song toàn. Không chỉ là một nhà văn mà còn là một nhà quân sự, nhà chính trị, nhà giáo dục. Những bài học Cụ để lại ở tất cả các lĩnh vực. Đầu tiên là bài học về một vị quan rất liêm khiết, liêm chính, rất tận tụy vì người dân và trung thành với triều đình" - Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long cho biết.

Trong các năm từ 1788 đến 1790, khi Nguyễn Huệ lên ngôi vua, Ninh Tốn được vua ban giữ chức quan trọng, nổi bật là Thượng thư Bộ binh, trông coi an ninh quốc phòng. Với chức cao này, Ninh Tốn đã thể hiện tư duy tiến bộ về pháp luật. Ông chủ trương dùng pháp luật để trị quốc nhưng phải đi đôi với sự khoan dung và lòng nhân ái. Bên cạnh đó, Ninh Tốn là thành viên cốt cán của nhóm Ngô Gia Văn Phái - tổ chức văn học lớn nhất thế kỷ XVIII. Ông đóng góp hàng loạt tác phẩm có giá trị: Chuyết Hiên thi tập, Ninh Thượng thư tập… Thơ văn của ông mang tính hiện thực sâu sắc, mô tả chân thực nỗi khổ của người dân và khí thế của thời đại.

PGS. TS Đặng Văn Bài, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản Quốc gia, nguyên Cục Trưởng Cục Di sản Văn hoá, Bộ VH-TT&DL cho rằng, một trong những thành tựu ngoại giao lớn nhất mà Ninh Tốn góp công là làm thay đổi tư duy của nhà Thanh về các lễ vật triều cống nặng nề từ thời trước (đặc biệt là lễ đúc người vàng thế mạng từ thời Minh). Ninh Tốn cùng với Ngô Thì Nhậm đã soạn thảo những văn thư lập luận rằng: một triều đại mới, chính nghĩa như Tây Sơn, được lòng dân và thiên mệnh, không thể bị ràng buộc bởi những lệ cũ mang tính sỉ nhục của các triều đại trước:

"Ninh Tốn không chỉ là một vị đại thần trong triều Tây Sơn mà còn đóng vai trò là “Một kiến trúc sư về tư tưởng và ngoại giao” của lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII. Ông là “chiếc cầu nối” giữa 2 thời đại Lê - Trịnh và Tây Sơn. Là “lá chắn” ngoại giao mềm mỏng nhưng đanh thép và là ngọn hải đăng của tinh thần trí thức “thức thời”, trụ cột của nền văn hiến dân tộc. Có thể nói, Ninh Tốn là một danh nhân toàn tài - người đã dùng ngòi bút và trí tuệ để bảo vệ biên cương không kém gì những vị tướng cầm gươm. Ông là biểu tượng của sự kết hợp hài hoà giữa văn chương bác học và tinh thần thực tiễn, một nhân cách lớn và lịch sử Việt Nam luôn trân trọng" - PGS. TS Đặng Văn Bài nhận định.

Từ cuộc đời và sự nghiệp của Thượng Thư Ninh Tốn - một tri thức Nho học tiêu biểu trong giai đoạn lịch sử nhiều biến động có thể rút ra nhiều bài học có giá trị sâu sắc cho chúng ta hôm nay. Những bài học này không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà còn có tính thời sự, nhất là khi đất nước đang đứng trước những thách thức của đổi mới phát triển, toàn cầu hoá và cạnh tranh khốc liệt.

Với tài năng văn võ song toàn của mình, Thượng thư Ninh Tốn đã dốc sức phò vua, cùng các quần thần dâng nhiều sớ trình quan trọng để giúp vua Quang Trung đề ra những cải cách, chiến lược quân sự trong xây dựng, bảo vệ đất nước, xây dựng lực lượng quân đội hùng mạnh. Sau khi vua Quang Trung mất, ông cáo quan về quê dưỡng lão, giao du với phong cảnh thanh sơn thủy tú ở quê nhà một thời gian rồi mất.

“Người xưa đã khuất, nhưng văn hiến còn. Thơ có thể mất, nhưng khí tiết không mất” - đó là những câu thơ mà người đời vẫn ca ngợi Thượng Thư Ninh Tốn cho đến ngày nay.