Trải suốt gần 1.000 năm khoa cử, từ khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm Ất Mão (1075) dưới triều vua Lý Nhân Tông đến khoa thi cuối cùng diễn ra vào năm Mậu Ngọ (1918) dưới triều Nguyễn chỉ có 5 người đỗ Tam nguyên, tức là đỗ cao nhất cả 3 kỳ thi là thi Hương, thi Hội và thi Đình - đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Trần Bích San, Nguyễn Khuyến và Vũ Phạm Hàm. Trong số đó, Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm được xem là một gương mặt đặc biệt của buổi giao thời cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Bởi ông không chỉ là vị Tam nguyên Thám hoa cuối cùng của nền khoa cử phong kiến Việt Nam, mà còn là một nhà giáo tâm huyết, một vị quan thanh liêm và một nhà thơ mang nặng nỗi lòng trước thời cuộc.

Theo các tư liệu lịch sử, Vũ Phạm Hàm sinh năm Giáp Tý (1864), niên hiệu Tự Đức thứ 17, quê ở làng Đôn Thư, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc xã Thanh Oai, Hà Nội), tự là Mộng Hải, Mộng Hồ, hiệu là Thư Trì. Ông vốn người gốc họ Phạm ở làng Chuông, ngay phía dưới Đôn Thư.

“Vũ Phạm Hàm là người của một danh gia vọng tộc mang họ kép Vũ và Phạm. Quê hương là làng Đôn Thư. Trong đó chữ Thư ở đây là thi thư, văn hiến, chữ nghĩa thánh hiền”, Nhà Sử học Lê Văn Lan cho biết.

Sử cũ ghi lại rằng, Vũ Phạm Hàm vốn gốc họ Phạm, tổ tiên nhiều đời trước ông làm con nuôi họ Vũ, thuộc dòng Vũ Công Chấn, nguyên Đông các Đại học sĩ, Đô ngự sử, Tả Thị lang bộ Binh đời chúa Trịnh Doanh.

Đến thời Nguyễn, dòng họ Vũ Phạm ở Đôn Thư đã có một số vị hiển đạt. Cha của Vũ Phạm Hàm là một thầy đồ hay chữ nhưng nhà nghèo. Còn mẹ làm ruộng và làm thêm cả nghề nón, vốn là nghề truyền thống của dân hai làng Chuông và Đôn Thư. Vũ Phạm Hàm là con thứ, nhưng đã nổi tiếng thần đồng và hiếu học. Ngay từ nhỏ, ông đã bộc lộ trí thông minh xuất chúng và niềm đam mê học tập.

Năm 1884, dưới triều vua Kiến Phúc (tức vua Nguyễn Phúc Ưng Đăng, vị hoàng đế thứ 7 của triều Nguyễn 1869-1884), Vũ Phạm Hàm đã đỗ đầu kỳ thi Hương (tức Giải nguyên), đến khoa năm Nhâm Thìn, Thành Thái thứ 4 (1892), ông đỗ thủ khoa (Hội Nguyên). Cũng trong năm đó, ông dự thi Đình và đỗ thủ khoa (Đình nguyên).

Ông đã giành được học vị Đệ nhất Giáp Tiến sĩ cập đệ, đệ tam danh (tức Thám hoa) nên người đời thường gọi ông là Tam nguyên Thám hoa (hay Tam nguyên Đôn Thư Vũ Phạm Hàm). Cùng khoa thi với Vũ Phạm Hàm năm đó còn có danh sĩ Chu Mạnh Trinh.

Sau khi đỗ đạt, Thám hoa Vũ Phạm Hàm được triều đình bổ nhiệm nhiều chức vụ như: Giáo thụ phủ Kiến Thụy, Án sát Hưng Yên, Án sát Hải Dương và Đốc học Hà Nội… Dù ở cương vị nào, ông cũng nổi tiếng thanh liêm, trọng đạo học và hết lòng vì việc đào tạo nhân tài cho đất nước. Đặc biệt, trong thời gian làm Đốc học Hà Nội, ông đã góp sức phát triển nền học thuật và có liên hệ với báo Quán Đồng văn - tờ báo gắn với tinh thần canh tân, yêu nước thời bấy giờ.

Tuy nhiên, Tam nguyên Vũ Phạm Hàm sống trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, khi đất nước dần rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp, các phong trào kháng chiến liên tiếp thất bại, còn nền Nho học truyền thống cũng đứng trước nguy cơ suy tàn. Tuy trong sử sách không ghi chép việc ông có mặt ở những trận đánh, những phong trào đấu tranh và giữ thành Hà Nội, nhưng trong các tác phẩm của mình ông thể hiện rõ chí khí tinh thần yêu nước cũng như hiến những kế sách xây dựng đất nước.

Đặc biệt điều này được thể hiện rõ trong bài Văn sách thi Đình của ông. Văn sách thi Đình là bài văn mà các sĩ tử thời phong kiến phải viết để trả lời các câu hỏi (đề sách) do chính nhà vua trực tiếp ra đề. Đây là kỳ thi cao cấp nhất (Đình thí) nhằm xếp hạng học vị Tiến sĩ (hoặc Trạng nguyên) cho những người đã đỗ kỳ thi Hội.

“Trong bài Văn sách thi Đình của cụ Hàm trình bày về kế sách xây dựng đất nước. Trong đó có những câu rất nổi tiếng như: “Thần xin bệ hạ khuyên răn các quan đừng coi dân là cá thịt, ý muốn nói rằng quan không được tham nhũng, không được tham ô, không được ăn của dân. Hay cụ nói vua coi dân là gốc, dân coi cái ăn là trời, bệ hạ muốn giữ gìn xã tắc thì phải coi trọng cái ăn của dân. Coi dân là gốc chứ không phải lấy dân làm gốc”, nhà nghiên cứu Vũ Phạm Quyết Thắng, cháu nội của Tam nguyên Vũ Phạm Hàm chia sẻ.

Không chỉ là một vị quan thanh liêm, Thám hoa Vũ Phạm Hàm còn để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị bằng chữ Hán và chữ Nôm như “Tập Đường thuật hoài”, “Mộng Hồ gia tập”, “Hương Sơn phong cảnh ca”… Trong thơ ông, người đọc bắt gặp một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước và luôn đau đáu trước vận mệnh dân tộc, mang nặng nỗi niềm ái quốc.

Tên tuổi của ông gắn liền với những câu đối nổi tiếng còn lưu truyền đến hôm nay, như đôi câu đối ở đền Kiếp Bạc:

“Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí/ Lục Đầu vô thủy bất thu thanh”.

Tạm dịch là:

“Núi Vạn Kiếp khắp nơi đều có tiếng gươm đao/ Sông Lục Đầu không ngọn sóng nào không có tiếng trống trận”.

Tiếc thay, năm 1906, Thám hoa Vũ Phạm Hàm lâm bệnh nặng và qua đời tại quê nhà, hưởng dương 43 tuổi. Khu mộ của ông hiện nằm tại làng Đôn Thư, xã Thanh Oai, Hà Nội và đã trở thành một di tích lịch sử - văn hóa có giá trị.

Dù sống trong giai đoạn lịch sử nhiều biến động, Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm vẫn để lại dấu ấn sâu đậm trên văn đàn, trong nền giáo dục và trong ký ức văn hóa dân tộc. Những giá trị mà ông để lại đến hôm nay vẫn tiếp tục được gìn giữ, như một lời nhắc nhớ về khí phách, nhân cách và trách nhiệm của người trí thức trước non sông đất nước. Tên của ông ngày nay vẫn hiện hữu trên những con phố của Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế và Ninh Bình…