Làm sao để AI không chỉ là công cụ hỗ trợ kỹ thuật, mà trở thành phương tiện nâng cao chất lượng dạy học, giúp mỗi học sinh được học theo năng lực, tốc độ và nhu cầu riêng? Đây là một trong những nội dung được các chuyên gia bàn luận tại Hội thảo chuyên đề “Cá nhân hóa việc học Toán bằng AI: Một hướng đi chiến lược cho giáo dục Việt Nam” do Tạp chí Giáo dục, Bộ GD-ĐT tổ chức sáng nay (4/6).
Giáo viên đóng vai học sinh để trải nghiệm
Tháng 11/2025, Trường THPT Quế Võ số 1, tỉnh Bắc Ninh bắt đầu thí điểm chương trình học thích ứng bằng AI. Ban đầu, giáo viên gặp nhiều khó khăn vì chưa biết AI sẽ tương tác với học sinh như thế nào. Thậm chí, giáo viên phải đóng vai học sinh để trải nghiệm trước.
Sau 4-5 tháng triển khai, học sinh cho biết, hệ thống có khả năng điều chỉnh mức độ câu hỏi theo năng lực. Ví dụ, khi hoàn thành tốt các câu hỏi nhận biết, hệ thống sẽ chuyển sang các câu hỏi vận dụng hoặc những bài toán phức tạp hơn.
Theo cô giáo Nguyễn Thị Lan, Tổ trưởng Tổ Toán, việc quan trọng nhất của giáo viên là hướng dẫn học sinh thực hiện bài khảo sát tâm lý một cách trung thực. “Nếu học sinh tự đánh giá mình yếu hoặc không thích học thì hệ thống sẽ xây dựng lộ trình tương ứng, dẫn tới việc các em hoàn thành quá nhanh và dễ chán”.
Sau đó, giáo viên giao phiếu học tập và hướng dẫn các em tự học, yếu phần nào thì tập trung học phần đó. Dưới sự gợi ý của AI, học sinh được khuyến khích tự học mà không bị áp lực điểm số.
Cô Lan cho rằng, để hệ thống hoạt động hiệu quả, giáo viên đóng vai trò quan trọng. Nguồn học liệu đầu vào phải chuẩn và đa dạng. Với công cụ AI, cá nhân hóa việc học trở nên dễ dàng hơn. “Nếu một giáo viên phải tự thiết kế 30 hay 50 bộ phiếu học tập cho từng học sinh thì gần như không thể”.
Từ việc thí điểm dùng AI để cá nhân hóa việc học Toán tại 2 trường đầu tiên, Bắc Ninh mở rộng dạy tại 21 trường. Ông Bạch Đăng Khoa, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT Bắc Ninh khẳng định, dạy học thích ứng cần sự kiên trì và quyết liệt. Quan trọng hơn, phải trao cho giáo viên, học sinh và phụ huynh niềm tin rằng, đây là xu thế tất yếu, là hướng đi đúng đắn. “Không thể để mọi người nghĩ rằng mình đang trở thành “chuột bạch” cho các thử nghiệm”.
Tại hội thảo, TS. Tôn Quang Cường, chủ nhiệm khoa Công nghệ Giáo dục, Trường ĐH Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội nêu 5 đặc điểm trong công nghệ giáo dục hiện nay, bao gồm: cá nhân hóa, di động hóa, hỗn hợp hóa, liền mạch hóa và trải nghiệm hóa. Những xu hướng này đặt ra nhiều bài toán mới cho giáo dục.
Trong bối cảnh đó, AI giúp giúp hóa giải nhiều vấn đề nhưng buộc cả người dạy và người học phải thay đổi. Trước đây, lớp học chỉ có người dạy và người học, bây giờ xuất hiện thêm một “người thứ ba”, đó là AI. Nhiệm vụ của chúng ta là phải thích ứng với sự thay đổi đó.
TS Tôn Quang Cường cho rằng, chưa bao giờ dạy và học "sướng" như bây giờ nếu biết kết nối các quá trình thuận lợi. Ông đưa ra gợi ý với giáo viên, không đặt câu hỏi cơ học cho AI mà vận dụng tư duy, nhận thức, thao tác hành vi tương ứng để thực hiện việc truy vấn. Đồng thời, coi AI là một đối tác cùng sáng tạo, một nhà thiết kế phương án cho mình.
Đề cập hệ sinh thái AI, PGS.TS Nguyễn Chí Thành, Trưởng khoa Khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục cho rằng bao gồm các thành tố: con người (người học và giáo viên), phương pháp giáo dục, chương trình giáo dục và cơ chế, chính sách quản lý.
Khi triển khai hệ thống AI, theo ông Thành công việc của giáo viên không hẳn giảm đi mà thậm chí tăng lên. Khi đó, cần có các chính sách hỗ trợ, đào tạo, bồi dưỡng phù hợp cho giáo viên.
Trong khi đó, nếu chỉ đơn giản giao cho học sinh sử dụng AI ở nhà mà không có định hướng cụ thể sẽ phát sinh nhiều vấn đề. Hiện nay, tại Đại học Quốc gia Hà Nội đang có sự phối hợp giữa 3 đơn vị gồm Viện Công nghệ sản phẩm chiến lược, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên và Trường ĐH Giáo dục để phát triển một chatbot AI, thiết lập các điều kiện và tham số ràng buộc để AI không đưa ra đáp án trực tiếp khi học sinh hỏi bài. Thay vào đó sẽ gợi ý, hướng dẫn từng bước. Về mặt công nghệ, điều này hoàn toàn khả thi.
Hiện nay, cơ sở hạ tầng công nghệ và nền tảng dữ liệu tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Mỗi trường, mỗi đơn vị hiện đang sử dụng AI theo những cách khác nhau và phần lớn vẫn tự xoay xở.
Theo PGS.TS Nguyễn Chí Thành, muốn xây dựng các chatbot/gia sư AI hiệu quả, phải thiết kế được hệ thống phù hợp. Điều này cần có sự phối hợp của “ba nhà”, gồm các nhà nghiên cứu giáo dục, nhà quản lý và người sử dụng trực tiếp, cuối cùng là các nhà công nghệ.
Để AI trở thành bạn đồng hành
Không phủ nhận AI đóng vai trò quan trọng hình thành kỹ năng số và nâng cao hiệu quả học tập nhưng bà Nguyễn Thúy Hường, Trưởng phòng giáo dục Tiểu học, Sở GD-ĐT Ninh Bình cũng đặt ra nhiều băn khoăn.
Cụ thể, làm thế nào để AI chỉ đóng vai trò là người bạn đồng hành, công cụ hỗ trợ mà không khiến học sinh ỉ lại, không thay thế quá trình tư duy và nỗ lực của các em. Bằng cách nào để AI không làm giảm động lực nghiên cứu, sáng tạo của giáo viên. Đồng thời, không làm mất đi cơ hội để học sinh tương tác với bạn bè, làm việc nhóm, trải nghiệm thực tiễn và phát triển các kỹ năng xã hội cần thiết.
Theo PGS.TS Chu Cẩm Thơ, Chủ nhiệm dự án VMathAI, nguyên Trưởng ban – Ban Nghiên cứu đánh giá giáo dục, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, điều sáng tạo nhất mà AI không thể thay thế được giáo viên là khả năng khích lệ, truyền cảm hứng và tạo ra trải nghiệm học tập.
Công nghệ có thể mang lại dữ liệu và sự thấu hiểu ở một mức độ nhất định, nhưng trải nghiệm giáo dục thực sự vẫn đến từ sự tinh tế, tình cảm và năng lực sư phạm của người thầy. Khi động lực học tập của học sinh và động lực nghề nghiệp của giáo viên được kết nối với nhau, lúc đó chúng ta mới chạm tới giá trị cốt lõi của giáo dục.
Nếu không, mọi thứ chỉ dừng lại ở việc thi được bao nhiêu điểm hay đỗ vào trường nào, mà quên mất câu hỏi quan trọng, các em có hạnh phúc, phát triển được năng lực và sẽ làm được gì trong tương lai.
Từ góc độ quản lý, các chuyên gia cho rằng việc triển khai các mô hình học tập thích ứng cần đi kèm cơ chế đánh giá độc lập, minh bạch dữ liệu, bảo vệ thông tin cá nhân của học sinh và bảo đảm công bằng trong tiếp cận.
Không chỉ trường học ở đô thị, các mô hình thí điểm cần tính đến điều kiện của khu vực nông thôn, miền núi, vùng khó khăn để tránh làm gia tăng khoảng cách số trong giáo dục./.
