Theo thống kê, nước ta hiện có khoảng 16,1 triệu người cao tuổi, tương đương 16% dân số và con số này vẫn đang tiếp tục gia tăng. Dự báo, thời kỳ dân số già sẽ bắt đầu từ năm 2031 đến năm 2035 và siêu già vào khoảng năm 2049.
Trước hết, cần nhìn nhận rằng già hóa dân số là kết quả của quá trình phát triển và đã đạt những thành tựu đáng kể. Tuổi thọ người dân tăng, chất lượng y tế cải thiện, mức sinh giảm - tất cả đều phản ánh những tiến bộ về kinh tế và xã hội. Thực tế này đã được minh chứng ở các quốc gia phát triển, điển hình là Nhật Bản, Hàn Quốc…
Tuy nhiên, chính những thành tựu đó lại kéo theo hàng loạt thách thức mới: Lực lượng lao động trong độ tuổi sản xuất dần thu hẹp, trong khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội cho người cao tuổi ngày càng lớn. Từ đó, áp lực đặt lên hệ thống y tế, quỹ hưu trí và ngân sách nhà nước cũng gia tăng.
Không khó để có thể nhận thấy, những thách thức này đã và đang dần hiện hữu ở Việt Nam. Nhiều chuyên gia nhận định việc chúng ta “chưa giàu đã già” đã và đang đe dọa mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra là đưa nước ta trở thành nước công nghiệp phát triển và thu nhập cao vào năm 2045.
Không chỉ có vấn đề kinh tế, già hóa dân số còn làm thay đổi cấu trúc xã hội khi mô hình gia đình truyền thống (nơi người cao tuổi sống dựa vào con cháu) đang dần nhường chỗ cho những mô hình thích ứng mới. Ngày càng nhiều người cao tuổi tham gia vào thị trường lao động. Bên cạnh những người già lao động vì mưu sinh, kiếm sống có không ít người cao tuổi đi làm vừa để kiếm tiền vừa để khẳng định giá trị bản thân, duy trì các mối quan hệ trong xã hội… Đây có thể nói là chuyển biến tích cực, cho thấy người cao tuổi không còn là “đối tượng thụ hưởng” đơn thuần, mà đang trở thành một lực lượng có thể đóng góp cho xã hội.
Từ góc nhìn này cho thấy, già hóa dân số không chỉ là thách thức mà còn mở ra những cơ hội mới, nhất là khi mô hình “kinh tế bạc” trở thành xu hướng phát triển tất yếu của nhân loại. Có thể hiểu “kinh tế bạc” là tổng thể các hoạt động kinh tế liên quan đến người cao tuổi, được cấu thành bởi 2 trụ cột chính: Thứ nhất là thị trường tiêu dùng, nghĩa là cung cấp sản phẩm dịch vụ cho người cao tuổi; Thứ hai là phát huy nguồn lực, cụ thể là người cao tuổi tiếp tục có những đóng góp về kinh tế - xã hội.
Như vậy có nghĩa, người cao tuổi vừa là người tiêu dùng vừa là khách thể có tiềm năng lớn, vừa là người tạo ra giá trị, vừa là chủ thể của nền kinh tế. Đồng thời, với kinh nghiệm, tri thức và kỹ năng của người cao tuổi nếu được khai thác hiệu quả sẽ góp phần bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế trong bối cảnh thiếu hụt lao động trẻ.
Tuy nhiên, để biến tiềm năng này thành động lực, Việt Nam cần có những bước đi chủ động và bài bản. Kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước như Nhật Bản cho thấy, việc chuẩn bị sớm về chính sách là yếu tố quyết định. Cụ thể là xây dựng hệ thống an sinh xã hội bền vững, cải cách thị trường lao động theo hướng linh hoạt hơn với người cao tuổi, thúc đẩy đào tạo lại và học tập suốt đời, cũng như ứng dụng công nghệ để bù đắp thiếu hụt lao động. Quan trọng hơn, cần thay đổi nhận thức xã hội: coi người cao tuổi là nguồn lực quý giá, chứ không phải gánh nặng.
Song, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng “kinh tế bạc” không phải là “chiếc đũa thần” có thể tạo ra đột phá tăng trưởng GDP. Đây chỉ có thể là giải pháp bù đắp cho nền kinh tế khi đang bị thiếu hụt lực lượng lao động. Hay nói cách khác, đây là giải pháp thích ứng với quá trình già hóa dân số hơn là đòn bẩy để có thể tạo những bước nhảy vọt về tăng trưởng kinh tế. Do đó, chiến lược dài hạn cần hướng tới việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ cho người cao tuổi có khả năng cạnh tranh và tham gia vào thị trường quốc tế, từ đó mở rộng chuỗi giá trị và đóng góp thực chất hơn cho nền kinh tế.
Già hóa dân số là điều không thể tránh khỏi khi mức sinh ở nước ta ngày càng thấp, tuổi thọ ngày càng cao, song cách chúng ta đón nhận điều này xảy ra sẽ quyết định tương lai của đất nước. Nếu chúng ta có cách tiếp cận linh hoạt và chính sách phù hợp thì sẽ biến thách thức của già hóa dân số thành cơ hội phát triển kinh tế xã hội.
