Dự báo đến năm 2030, Việt Nam sẽ có khoảng 18,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng đang đặt ra nhiều thách thức đối với hệ thống y tế, an sinh xã hội và thị trường lao động. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, đây cũng là thời điểm mở ra dư địa phát triển lớn cho “kinh tế bạc”, nền kinh tế gắn với nhu cầu và đóng góp của người cao tuổi.

Trao đổi với VOV2, bà Trần Bích Thủy, Giám đốc Quốc gia Tổ chức HelpAge International (Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi Quốc tế tại Việt Nam) cho biết, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh hàng đầu thế giới.

Theo bà Thủy, nếu nhiều nước mất từ 50 đến 70 năm để chuyển từ xã hội già hóa sang xã hội già, thì Việt Nam chỉ mất khoảng 20 đến 25 năm. Điều này đồng nghĩa thời gian chuẩn bị cho hệ thống chính sách và dịch vụ là rất ngắn.

Bà Thủy cho rằng, thách thức lớn của Việt Nam là tình trạng “chưa giàu đã già”, khi thu nhập bình quân đầu người vẫn ở mức trung bình nhưng số lượng người cao tuổi tăng nhanh. Điều này tạo sức ép kép cho nền kinh tế, vừa phải duy trì tăng trưởng, vừa phải tăng đầu tư cho an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe và chăm sóc dài hạn.

Ngoài ra, bà Thủy nhấn mạnh mô hình gia đình truyền thống cũng đang thay đổi nhanh chóng. Tình trạng di cư lao động, đô thị hóa khiến ngày càng nhiều người cao tuổi sống một mình, hoặc chỉ có hai vợ chồng già nương tựa nhau. Trong khi đó, hệ thống chăm sóc thay thế tại cộng đồng và các dịch vụ chính thức vẫn chưa phát triển tương xứng.

Ở góc độ y tế, bà Thủy phân tích thêm rằng hệ thống hiện nay vốn được thiết kế chủ yếu để xử lý bệnh cấp tính, nhưng xã hội già hóa lại đòi hỏi năng lực quản lý bệnh mạn tính, đa bệnh lý và suy giảm chức năng kéo dài.

“Một người cao tuổi thường mắc cùng lúc nhiều bệnh như tim mạch, tiểu đường, xương khớp, suy giảm thị lực hoặc nhận thức. Nếu không chuyển mạnh sang quản lý sức khỏe liên tục tại tuyến cơ sở, các bệnh viện tuyến trên sẽ ngày càng quá tải”, bà Thủy nêu quan điểm.

Bên cạnh thách thức, bà Thủy cho rằng, già hóa dân số cũng mở ra cơ hội kinh tế rất lớn. Theo đó, “kinh tế bạc” có thể hiểu là toàn bộ hoạt động kinh tế gắn với nhu cầu tiêu dùng, chăm sóc và khả năng đóng góp của người cao tuổi.

Theo bà Thủy, người cao tuổi Việt Nam hôm nay đã khác trước, sống lâu hơn, khỏe hơn, năng động và chủ động hơn trong việc tận hưởng cuộc sống. Họ không chỉ có nhu cầu khám chữa bệnh mà còn quan tâm đến du lịch, giải trí, học tập, công nghệ, tài chính cá nhân và tiếp tục làm việc khi có điều kiện phù hợp.

Bà Thủy nhận định, lĩnh vực có tiềm năng phát triển mạnh nhất trong “kinh tế bạc” là y tế và chăm sóc dài hạn, bao gồm chăm sóc tại nhà, phục hồi chức năng, quản lý bệnh mạn tính và chăm sóc sa sút trí tuệ.

Ngoài ra, công nghệ cho người cao tuổi cũng là lĩnh vực giàu triển vọng, với các sản phẩm như thiết bị theo dõi sức khỏe từ xa, ứng dụng kết nối bác sĩ với gia đình, thiết bị hỗ trợ vận động hay nhà thông minh.

Bà Thủy cho rằng thị trường dinh dưỡng chuyên biệt, bảo hiểm tuổi già, du lịch nghỉ dưỡng, nhà ở thân thiện với tuổi già cũng sẽ tăng trưởng nhanh trong thời gian tới khi thế hệ nghỉ hưu mới có xu hướng sống chủ động và chi tiêu nhiều hơn.

Một điểm đáng chú ý khác, theo bà Thủy, là vai trò của người cao tuổi trong thị trường lao động. Nhiều người trong độ tuổi 60 - 70 vẫn còn sức khỏe, kinh nghiệm và mong muốn tiếp tục làm việc.

“Nếu có cơ chế phù hợp, họ hoàn toàn có thể tham gia ở các vị trí cố vấn, đào tạo, kiểm soát chất lượng hoặc làm việc bán thời gian. Đây là nguồn lực rất lớn nhưng chưa được khai thác tương xứng”, bà Thủy nhấn mạnh.

Để biến già hóa dân số thành cơ hội phát triển, bà Thủy kiến nghị Việt Nam cần chuyển từ tư duy ứng phó sang chủ động chuẩn bị. Trong đó, cần nâng cao năng lực y tế cơ sở, mở rộng an sinh đa tầng, phát triển dịch vụ chăm sóc cộng đồng và tạo cơ chế việc làm linh hoạt cho người cao tuổi.

Già hóa dân số là xu hướng tất yếu, nhưng nếu được nhìn nhận đúng và chuẩn bị từ sớm, đây không chỉ là thách thức mà còn có thể trở thành động lực phát triển mới của đất nước./.