Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, trong 6 tháng đầu năm 2026, cả nước đưa 66.311 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đạt 59,2% kế hoạch năm. Mục tiêu của năm 2026 là khoảng 112.000 lao động. Tuy nhiên, tình trạng tổ chức, cá nhân không có giấy phép vẫn tham gia tuyển dụng, môi giới, thu tiền trái quy định và lừa đảo người lao động, nhất là trên môi trường mạng, tiếp tục diễn biến phức tạp.

Trong bối cảnh đó, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được kỳ vọng vừa tháo gỡ những vướng mắc trong hoạt động của doanh nghiệp, vừa tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, sáng nay (5/8), Quốc hội khóa XVI thảo luận ở tổ để góp ý với dự án luật này.

Bảo vệ người lao động trong toàn bộ hành trình

Một trong những vấn đề được các đại biểu quan tâm là phạm vi trách nhiệm của Nhà nước và doanh nghiệp đối với người lao động. Thay vì chỉ tập trung quản lý quá trình tuyển chọn và đưa người lao động xuất cảnh, chính sách cần bao quát toàn bộ hành trình, từ khi chuẩn bị nguồn đến thời gian làm việc ở nước ngoài và giai đoạn trở về.

Theo đại biểu Hà Thị Anh Thư (Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi), cần chuyển từ tư duy quản lý hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài sang quản trị toàn bộ “vòng đời” của người lao động.

Điều đó đòi hỏi một chuỗi chính sách đồng bộ, bắt đầu từ cung cấp thông tin, đào tạo nghề, ngoại ngữ và kỹ năng; tiếp tục bằng cơ chế bảo vệ, hỗ trợ pháp lý trong thời gian làm việc ở nước ngoài; sau cùng là công nhận kỹ năng nghề, kết nối việc làm và hỗ trợ khởi nghiệp khi người lao động trở về.

“Người lao động không phải là hàng hóa xuất khẩu, họ là công dân Việt Nam và là nguồn nhân lực của quốc gia”, đại biểu Hà Thị Anh Thư nhấn mạnh.

Từ cách tiếp cận lấy người lao động làm trung tâm, các quy định về chuẩn bị nguồn cũng cần được thiết kế chặt chẽ hơn. Đây là giai đoạn người lao động dễ gặp rủi ro, bởi hợp đồng cung ứng chưa được chấp thuận và họ chưa chắc chắn được phía nước ngoài tuyển chọn, nhưng có thể đã phải nộp nhiều khoản tiền.

Đại biểu Trần Lan Phương (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng) lưu ý, mặc dù dự thảo quy định chỉ được thu chi phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề và ngoại ngữ sau khi người lao động được tuyển chọn, vẫn có thể phát sinh những khoản thu dưới tên gọi khác như tiền đặt chỗ, phí hồ sơ, phí giữ nguồn hoặc thu thông qua cơ sở liên kết.

Để ngăn chặn tình trạng này, đại biểu đề nghị doanh nghiệp và tổ chức liên kết không được thu tiền dưới bất kỳ tên gọi nào trước khi người lao động được tuyển chọn. Thỏa thuận chuẩn bị nguồn cũng phải ghi rõ thị trường, ngành nghề, thời gian chờ, khả năng không được tuyển và quyền chấm dứt tham gia mà không bị phạt.

Cơ chế bảo vệ cũng cần được duy trì trong suốt thời gian người lao động ở nước ngoài. Với những người làm giúp việc gia đình, chăm sóc người cao tuổi, người bệnh hoặc làm việc trong hộ gia đình tư nhân, nguy cơ bị giữ giấy tờ, hạn chế liên lạc hoặc cô lập thường khó được phát hiện sớm.

Vì vậy, doanh nghiệp cần thiết lập kênh liên lạc an toàn, duy trì liên hệ định kỳ và có quy trình phối hợp với cơ quan đại diện Việt Nam để hỗ trợ khẩn cấp khi phát hiện người lao động bị đe dọa hoặc xâm phạm.

Yêu cầu bảo vệ càng phải được chú trọng đối với những nhóm có ít điều kiện tiếp cận thông tin. Đại biểu Hoàng Văn Tuyên (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng) đề nghị có chính sách hỗ trợ thực chất đối với người lao động là người dân tộc thiểu số hoặc cư trú tại vùng khó khăn.

Sự hỗ trợ này cần bao gồm đào tạo nghề, ngoại ngữ, giáo dục định hướng, vay vốn ưu đãi và trợ giúp pháp lý. Trước khi ký hợp đồng và xuất cảnh, doanh nghiệp phải cung cấp thông tin bằng hình thức trực tiếp, dễ hiểu, phù hợp với trình độ và khả năng ngôn ngữ của người lao động.

Tháo gỡ vướng mắc nhưng không hạ thấp chất lượng

Bên cạnh tăng cường bảo vệ người lao động, các đại biểu cho rằng dự thảo luật cần tạo động lực phát triển thị trường, nâng cao năng lực của doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực.

Đại biểu Đặng Ngọc Huy (Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi) đánh giá dự thảo đã cắt giảm một số thủ tục hành chính, tăng tính chủ động cho doanh nghiệp trong chuẩn bị nguồn lao động và bổ sung quy định phòng, chống môi giới bất hợp pháp, mua bán người.

Tuy nhiên, việc sửa luật không nên chỉ dừng ở xử lý những vấn đề kỹ thuật quản lý. Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cần được coi là một bộ phận của chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia và quá trình Việt Nam chủ động tham gia thị trường lao động quốc tế.

Trong bối cảnh cạnh tranh không còn chủ yếu dựa trên lao động giá rẻ, chính sách cần hướng đến phát triển lao động có kỹ năng, trình độ chuyên môn và khả năng thích ứng với môi trường làm việc quốc tế.

Theo đại biểu, các điều kiện kinh doanh nên được rà soát theo hướng đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật, chất lượng dịch vụ và hiệu quả bảo vệ người lao động, thay vì quá chú trọng những điều kiện đầu vào mang tính hành chính.

“Doanh nghiệp làm tốt cần được tạo điều kiện phát triển; doanh nghiệp vi phạm phải bị xử lý nghiêm và loại khỏi thị trường”, đại biểu nêu quan điểm.

Tinh thần tháo gỡ vướng mắc cũng được đặt ra đối với điều kiện cơ sở vật chất phục vụ giáo dục định hướng. Đại biểu Vũ Văn Tiến (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng) đề nghị cho phép doanh nghiệp liên kết với các cơ sở đào tạo đủ năng lực, thay vì mỗi doanh nghiệp đều phải tự duy trì một trung tâm đào tạo và cơ sở nội trú.

Nếu hàng trăm doanh nghiệp đều phải đầu tư cơ sở đào tạo riêng, chi phí duy trì sẽ rất lớn, trong khi một trung tâm đủ năng lực có thể đáp ứng nhu cầu đào tạo cho nhiều đơn vị. Việc cho phép liên kết sẽ góp phần sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất và giảm gánh nặng không cần thiết cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, tháo gỡ điều kiện cơ sở vật chất không đồng nghĩa với xem nhẹ chất lượng giáo dục định hướng. Người lao động cần được trang bị kiến thức pháp luật, văn hóa, ngoại ngữ và kỹ năng ứng xử trước khi xuất cảnh.

Yêu cầu này cũng cần áp dụng đối với người lao động ký hợp đồng trực tiếp với chủ sử dụng ở nước ngoài, thay vì chỉ giới hạn ở những người đi thông qua doanh nghiệp dịch vụ. Việc chuẩn bị đầy đủ sẽ giúp người lao động hiểu quyền, nghĩa vụ, điều kiện làm việc và cách xử lý những tình huống có thể phát sinh tại nước tiếp nhận.

Một vấn đề xuyên suốt khác là chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau khi người lao động trở về. Nhiều người từng làm việc tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức hoặc Đài Loan, có tay nghề, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp nhưng chưa được công nhận đầy đủ kỹ năng, chưa được kết nối hiệu quả với doanh nghiệp trong nước.

Nếu chính sách chỉ dừng ở việc đưa người lao động ra nước ngoài và tiếp nhận nguồn ngoại tệ gửi về, Việt Nam chưa khai thác hết giá trị của nguồn nhân lực đã được đào tạo trong môi trường quốc tế.

Vì vậy, dự thảo cần bổ sung cơ chế công nhận kỹ năng nghề và kinh nghiệm làm việc; kết nối người lao động với doanh nghiệp có nhu cầu; hỗ trợ đào tạo nâng cao, chuyển đổi nghề và khởi nghiệp sau khi trở về.

Thành công của chính sách không chỉ được đo bằng số người đi làm việc ở nước ngoài hay lượng ngoại tệ gửi về, mà còn bằng việc hình thành đội ngũ lao động có kỹ năng, kinh nghiệm quốc tế và khả năng tiếp tục đóng góp cho quá trình phát triển đất nước.