Tiếp theo chương trình đợt 2 kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội dành nhiều ý kiến cho chủ trương tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành một chương trình tổng thể giai đoạn 2026-2035.
Về tên gọi, các đại biểu thống nhất là “Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa, xã hội, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035”. Với 28 ý kiến phát biểu tại hội trường sáng 20/8 cũng như gần 100 ý kiến phát biểu tại tổ trước đó, hầu hết đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết tích hợp 4 chương trình thành một chương trình và cho rằng đây là một bước đổi mới quan trọng.
Phân cấp phải đi cùng quyền chủ động và năng lực thực hiện
Nhiều ý kiến lưu ý, nếu chỉ hợp nhất về tên gọi, nguồn vốn và đầu mối quản lý mà cách thức thực hiện không thay đổi thì mục tiêu tích hợp khó đạt được.
Đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang) cho rằng nhu cầu tăng cường phân cấp, trao quyền chủ động cho địa phương trong việc lựa chọn phương thức thực hiện chính sách và kiến nghị rà soát cơ chế vốn đối ứng để hỗ trợ hiệu quả hơn cho các tỉnh miền núi, biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đại biểu Lý Thị Lan đề nghị làm rõ hơn quyền chủ động của địa phương trong lựa chọn phương thức thực hiện chính sách. Thực tế tại địa phương cho thấy, cùng một mục tiêu hỗ trợ sinh kế nhưng không phải phương thức nào cũng phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Giai đoạn 2021-2025, Tuyên Quang có hơn 3.400 hộ có nhu cầu hỗ trợ đất sản xuất nhưng chỉ thực hiện được cho 47 hộ. Trong khi đó, khi chuyển sang hỗ trợ chuyển đổi nghề, chính sách đã tiếp cận được hàng nghìn hộ. Từ thực tế này, đại biểu Lý Thị Lan cho rằng, Trung ương nên quy định mục tiêu, đối tượng, nguyên tắc và giới hạn nguồn lực; còn trong cùng một nhóm đối tượng, cùng mục tiêu chính sách, địa phương cần được lựa chọn phương thức hỗ trợ phù hợp và chịu trách nhiệm về kết quả.
Đối với việc phân cấp xuống cấp xã, vấn đề năng lực thực thi cũng được đặt ra, nhất là tại các xã miền núi, biên giới, nơi địa bàn rộng, dân cư phân tán nhưng đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế. Theo bà Lý Thị Lan, việc nào thuộc thẩm quyền và khả năng của xã thì giao xã chủ động thực hiện; những khâu chuyên môn, kỹ thuật mà cấp xã chưa đủ năng lực thì cấp tỉnh cần hướng dẫn, hỗ trợ. Cùng với đó là đơn giản hóa quy trình, thủ tục đối với những nhiệm vụ quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, trực tiếp phục vụ cộng đồng.
Một vấn đề được đại biểu Lý Thị Lan đặc biệt lưu ý là vốn đối ứng của địa phương, không để khó khăn về vốn đối ứng trở thành “rào cản” với vùng khó khăn. Các tỉnh miền núi, biên giới, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số thường có số đối tượng thụ hưởng lớn, nhu cầu đầu tư cao nhưng khả năng cân đối ngân sách còn hạn chế. Nếu mức vốn đối ứng được xác định cứng theo tỷ lệ vốn Trung ương phân bổ, địa phương càng được giao nhiều nguồn lực thì số tiền phải đối ứng càng lớn, trong khi lại khó có khả năng cân đối. Vì vậy, đại biểu Lý Thị Lan đề nghị, nghĩa vụ đối ứng cần được tính toán trên cơ sở khả năng ngân sách, mức độ khó khăn và tính chất từng nhóm nhiệm vụ. Đặc biệt, với những chính sách trực tiếp giải quyết thiếu hụt cơ bản của hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số như đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, sinh kế, cần có mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương cao hơn.
Đại biểu Lý Thị Lan cũng đề nghị rà soát tiêu chí chấm điểm vốn đối ứng, tránh tình trạng một địa phương vì khó khăn ngân sách không bố trí đủ vốn đối ứng trong năm trước, đến năm sau lại tiếp tục bị bất lợi khi phân bổ nguồn lực.
Gọn đầu mối nhưng phải “nhìn thấy” chính sách dành cho đồng bào
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu (Đoàn ĐBQH thành phố Huế) nhấn mạnh đây là chương trình được người dân vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo đặc biệt mong đợi. Tuy nhiên, theo đại biểu, với tổng nguồn lực dự kiến hơn 808 nghìn tỷ đồng, việc tích hợp 4 chương trình phải hướng tới thay đổi cách quản lý, phân bổ và chịu trách nhiệm đối với nguồn lực công.
“Sự gọn về mặt cấu trúc không được làm giảm khả năng theo dõi chính sách cụ thể” - đại biểu Nguyễn Thị Sửu nhấn mạnh.
Đặc biệt, với chính sách dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cần có khả năng truy xuất rõ mục tiêu, đối tượng, địa bàn, nguồn lực và kết quả thụ hưởng. Theo đại biểu, trong 5 năm tới, việc đánh giá chương trình không nên chỉ dựa vào tỷ lệ giải ngân mà phải dựa trên những kết quả có thể nhìn thấy và kiểm chứng được.
Đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) cũng cho rằng phân cấp phải gắn với năng lực thực thi, nhất là khi cấp xã sẽ trực tiếp đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ hơn trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Với các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cần có cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo, chuyển giao năng lực quản trị cho cán bộ cơ sở. Việc thuê chuyên gia tư vấn cũng cần theo hướng đồng hành và chuyển giao năng lực, thay vì làm thay công việc của cơ quan nhà nước.
Một trong những điểm đáng chú ý trong các ý kiến thảo luận là yêu cầu thay đổi cách tiếp cận giảm nghèo và phát triển vùng dân tộc thiểu số. Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) cho rằng, quy mô chương trình càng lớn thì yêu cầu về chất lượng quản trị càng cao. Tích hợp lần này không nên chỉ là hợp nhất về tổ chức hay tên gọi mà phải tạo ra một phương thức quản trị mới, minh bạch hơn và hướng mạnh hơn đến người dân.
Theo đại biểu, cần chuyển từ tư duy Nhà nước hỗ trợ cho người dân cái gì sang Nhà nước hỗ trợ để người dân có thể tự phát triển như thế nào.
“Một dự án giải ngân 100% nhưng sau khi kết thúc người dân vẫn nghèo, mô hình không tự duy trì được thì không thể coi là thành công. Ngược lại, một dự án giúp người dân có sinh kế, tăng thu nhập, thoát nghèo bền vững và tự vận hành được sau hỗ trợ mới chính là hiệu quả thực chất” - đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi bày tỏ.
Từ cách tiếp cận này, các đại biểu đề nghị ưu tiên những dự án tạo việc làm, tăng thu nhập, liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm; đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường; chuyển đổi số, thương mại điện tử; phát triển sản phẩm đặc trưng, du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch văn hóa; đồng thời hỗ trợ phụ nữ, thanh niên và đồng bào dân tộc thiểu số khởi nghiệp, phát triển sản xuất.
Thước đo cuối cùng là cuộc sống của người dân
Đại biểu Bùi Văn Dũng (Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa) nhìn nhận 4 chương trình dù thuộc các lĩnh vực khác nhau nhưng đều hướng tới một chủ thể là con người, một không gian là cộng đồng và địa phương, với mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống.
“Giá trị lớn nhất cần đạt được là không phải bốn chương trình cộng lại thành một chương trình, mà phải tạo ra hiệu quả tổng hợp lớn hơn tổng hiệu quả của bốn chương trình riêng” - đại biểu Bùi Văn Dũng nêu quan điểm.
Theo đại biểu, tích hợp phải đi cùng chuyển từ quản lý theo từng chương trình, từng ngành sang tư duy phát triển tích hợp, lấy con người làm trung tâm; từ quản lý đầu vào sang quản trị theo kết quả; từ Trung ương quyết định nhiều việc cụ thể sang địa phương chủ động và chịu trách nhiệm.
Đặc biệt: “Giải ngân là điều kiện cần, sự phát triển của con người và chất lượng cuộc sống của nhân dân mới là thước đo cuối cùng”- đại biểu Bùi Văn Dũng nhấn mạnh.
Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, yêu cầu này càng có ý nghĩa. Bởi một công trình hoàn thành, một khoản vốn được giải ngân hay một chương trình được triển khai chỉ thực sự có giá trị khi người dân được tiếp cận chính sách thuận lợi hơn, có thêm cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe, cải thiện điều kiện sống, tạo dựng sinh kế và từng bước tự chủ trong phát triển.
Tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia, vì thế, không chỉ là câu chuyện tổ chức lại nguồn vốn hay giảm số lượng đầu mối quản lý. Điều quan trọng hơn là đưa chính sách đến đúng địa bàn, đúng đối tượng, đúng nhu cầu và tạo ra những thay đổi có thể đo đếm được trong cuộc sống của người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở những vùng còn nhiều khó khăn.
