Tại đồng bằng sông Cửu Long, một số mô hình chăn nuôi và thủy sản do ActionAid cùng cộng đồng và các đối tác xây dựng trong giai đoạn 2023-2025 đã giảm phát thải hơn 11%. Chi phí năng lượng của mỗi hộ giảm từ 480.000 đồng đến 1,2 triệu đồng mỗi tháng; 837 hộ dân tham gia và hưởng lợi, phần lớn do phụ nữ làm chủ.
Những con số được công bố tại Hội thảo “Nông nghiệp sinh thái cho tương lai bền vững”, tổ chức sáng 14/9 tại Hà Nội, cho thấy lợi ích kinh tế và môi trường có thể song hành. Nhưng từ mô hình có kết quả đến khả năng nhân rộng vẫn còn một câu hỏi lớn: Ai sẽ trả chi phí cho quá trình chuyển đổi?
“Chúng ta không thể nói về một nền nông nghiệp bền vững nếu người nông dân phải gánh phần lớn chi phí chuyển đổi, trong khi lợi ích về môi trường và xã hội được chia sẻ rộng rãi”, bà Hoàng Phương Thảo, Trưởng đại diện ActionAid Quốc tế tại Việt Nam, nêu vấn đề.
Sinh kế và thị trường phải đi cùng chuyển đổi xanh
Hơn 100 đại biểu, trong đó có gần 30 đại biểu đến từ các nước châu Á và châu Phi, tham dự hội thảo do ActionAid Quốc tế tại Việt Nam tổ chức. Các ý kiến tập trung vào khả năng mở rộng nông nghiệp sinh thái trong bối cảnh rủi ro khí hậu gia tăng và thị trường nông sản biến động.
Theo bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam, nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt khi suy thoái đất, rủi ro nguồn nước và áp lực thị trường cùng gia tăng. Vấn đề không chỉ là thay đổi phương thức sản xuất mà còn là bảo đảm các gia đình nông thôn nâng được khả năng chống chịu, thay vì để những nhóm dễ bị tổn thương bị bỏ lại phía sau.
Việt Nam đã có nhiều nền tảng để phát triển nông nghiệp sinh thái, từ mô hình vườn - ao - chuồng mang tính tuần hoàn đến lúa - thủy sản phát thải thấp ở đồng bằng sông Cửu Long và nông lâm kết hợp tại miền núi. Nông nghiệp sinh thái cũng đã được xác định trong Kế hoạch hành động quốc gia về chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm theo hướng phát thải thấp và có khả năng chống chịu.
Tuy nhiên, chuyển đổi xanh ngày càng giống một “tấm hộ chiếu” để nông sản tiếp cận thị trường có giá trị cao. Nếu nông hộ nhỏ và hợp tác xã không đủ vốn, kỹ thuật hoặc đầu ra ổn định, cơ hội này có thể chủ yếu thuộc về các doanh nghiệp quy mô lớn.
Bà Pauline Tamesis cho rằng cần củng cố hợp tác xã nông dân, mở rộng hệ thống bảo đảm có sự tham gia (PGS) và tạo thị trường tiêu thụ ổn định thông qua mua sắm công cùng các hợp đồng kinh doanh công bằng. Đây là những điều kiện để phương thức sản xuất sinh thái vừa tạo giá trị kinh tế, vừa tăng khả năng chống chịu trước thiên tai.
Không để phụ nữ và cộng đồng yếu thế đứng cuối hàng
Theo thông tin được nêu tại hội thảo, 63% phụ nữ nông thôn ở Việt Nam làm nông nghiệp để tạo sinh kế; hơn 80% cộng đồng dân tộc thiểu số phụ thuộc vào nông nghiệp. Vì vậy, hiệu quả của quá trình chuyển đổi không thể chỉ được đo bằng mức giảm phát thải, mà còn phải được nhìn từ khả năng tiếp cận đất đai, vốn, thị trường và quyền ra quyết định của người sản xuất.
Bà Pauline Tamesis nhận định phụ nữ và thanh niên không chỉ là nhóm thụ hưởng mà phải trở thành những người kiến tạo quá trình chuyển đổi. Để làm được điều đó, cần mở rộng các nguồn tài chính có tính đến yếu tố giới, bảo đảm quyền sử dụng đất chung và tháo gỡ rào cản đối với vai trò lãnh đạo của phụ nữ trong hợp tác xã, doanh nghiệp nông thôn.
“Khi chúng ta đầu tư cho phụ nữ và thanh niên nông thôn, tiếng nói của họ sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn trong gia đình, trên thị trường và trong quá trình xây dựng chính sách quốc gia”, bà Pauline Tamesis nói.
Thanh niên có lợi thế về công nghệ, đổi mới sáng tạo và mô hình kinh doanh mới; trong khi phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong sản xuất và tổ chức đời sống nông thôn. Song tiềm năng này chỉ có thể trở thành động lực nếu họ được tham gia thực chất, có quyền quyết định và tiếp cận nguồn lực.
Từ kinh nghiệm của các mô hình tại đồng bằng sông Cửu Long, bà Hoàng Phương Thảo cho rằng cần tăng cường chia sẻ tri thức, sáng kiến và nguồn lực thông qua hợp tác giữa các quốc gia phương Nam. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là tạo thêm những mô hình thí điểm, mà là đưa các sáng kiến đã cho thấy hiệu quả vào triển khai rộng hơn.
Cần cơ chế chia sẻ chi phí và lợi ích
Việt Nam từng chuyển từ một nước thiếu lương thực thành quốc gia có vị thế trên thị trường xuất khẩu nông sản. Với nông nghiệp sinh thái, thách thức tiếp theo không chỉ nằm ở năng lực sản xuất, mà còn ở cách phân bổ chi phí và lợi ích trong toàn bộ chuỗi giá trị.
Theo bà Hoàng Phương Thảo, cần giảm các rào cản về vốn, chi phí và rủi ro sản xuất; phát triển chuỗi giá trị cạnh tranh; tạo điều kiện để người sản xuất nhận được phần giá trị công bằng hơn; đồng thời huy động nguồn lực để nhân rộng những sáng kiến có hiệu quả.
Khi lợi ích môi trường và xã hội được chia sẻ cho cả cộng đồng, chi phí tạo ra những lợi ích đó cũng cần được phân bổ công bằng. Đây là điều kiện để chuyển đổi nông nghiệp sinh thái không trở thành một gánh nặng mới đối với nông dân, đặc biệt là nông hộ nhỏ, phụ nữ và các cộng đồng ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số./.
