Đề thi môn Ngữ văn TP. Hồ Chí Minh năm 2026 được xây dựng theo chủ đề “Những sắc màu cảm xúc”, gồm hai phần cân bằng: đọc hiểu văn bản văn học kết hợp viết đoạn nghị luận văn học và đọc hiểu văn bản nghị luận kết hợp viết bài nghị luận xã hội.

Điểm đáng chú ý ở năm nay là cả hai ngữ liệu cùng xoay quanh đời sống cảm xúc của con người hiện đại, từ câu chuyện robot biết sợ mất mình đến vấn đề người trẻ thiếu cảm xúc, khô cứng. Chủ đề gần gũi, có tính thời sự nhưng vẫn giữ được chất “văn”.

Tổ Ngữ văn – Hệ thống giáo dục HOCMAI đánh giá, đề thi vừa sức với thí sinh do đã quen với cấu trúc đề, hoạt động rèn luyện diễn ra trong thời gian dài. Các câu hỏi nhận diện lời người kể chuyện, lời nhân vật, phân tích tác dụng của lí lẽ và bằng chứng, xác định câu rút gọn không gây áp lực lớn, tuy nhiên, đề không dễ đạt điểm tuyệt đối vì nhiều yêu cầu đòi hỏi thí sinh hiểu đúng sắc thái của văn bản, diễn đạt rõ ràng và biết liên hệ vấn đề một cách chừng mực.

Tính phân hóa nằm rõ ở câu viết đoạn 200 chữ về văn bản văn học và bài nghị luận xã hội 4 điểm. Với câu nghị luận xã hội, đề cho học sinh chọn một trong hai yêu cầu: bàn về hiện tượng thiếu cảm xúc, khô cứng và cằn cỗi cảm xúc ở một số bạn trẻ, hoặc viết bài với nhan đề “Thấu hiểu cảm xúc để biết sống yêu thương”. Sự lựa chọn này tạo thuận lợi tâm lí cho thí sinh, đồng thời vẫn phân loại được bài viết chung chung với bài viết có luận điểm sâu, dẫn chứng phù hợp và giải pháp thực chất.

Điểm ấn tượng của đề thi năm nay là cách đặt thí sinh đứng trước câu hỏi về ranh giới giữa dữ liệu, cảm xúc và bản sắc cá nhân; phần nghị luận xã hội mở rộng sang nhu cầu nuôi dưỡng cảm xúc trong đời sống con người. Nhờ đó, đề vừa có chất văn chương, vừa gợi suy nghĩ về lối sống của người trẻ trong bối cảnh công nghệ và nhịp sống nhanh.

Một hạn chế nhỏ có thể nằm ở việc ngữ liệu văn học khá mới, tên tác phẩm và nhân vật robot có thể khiến một bộ phận học sinh ban đầu bỡ ngỡ, dù vậy, văn bản được trích có dung lượng vừa phải, tình huống rõ, câu hỏi bám sát chi tiết nên không đánh đố thí sinh mà chỉ dừng lại ở trở ngại nhỏ về tâm lý ban đầu. Độ khó của đề không nằm nhiều ở việc nhận diện kiến thức, mà nằm ở khả năng hiểu đúng yêu cầu, lựa chọn ý và diễn đạt thuyết phục.

Theo đội ngũ giáo viên tổ Ngữ văn – Hệ thống giáo dục HOCMAI, cấu trúc đề khá cân bằng khi kết hợp đọc hiểu văn bản văn học, đọc hiểu văn bản nghị luận, viết đoạn và viết bài. Các câu nhận biết, thông hiểu tạo nền để học sinh trung bình có thể tiếp cận đề. Câu I.1d, câu I.2 và đặc biệt câu II.2 có tính phân hóa rõ vì đòi hỏi thí sinh không chỉ hiểu văn bản mà còn biết bày tỏ quan điểm.

Phần dễ khiến thí sinh mất điểm là câu phân tích vai trò chi tiết và câu viết đoạn nếu sa vào kể lại nội dung thay vì phân tích, câu nghị luận xã hội yêu cầu năng lực lập luận, lựa chọn dẫn chứng và đề xuất giải pháp phù hợp. Nhìn tổng thể, đề có sự cân bằng giữa câu hỏi cơ bản và yêu cầu vận dụng, đồng thời khuyến khích thí sinh thể hiện năng lực đọc hiểu, cảm thụ và diễn đạt cá nhân.

Với cấu trúc và độ khó của đề, các giáo viên dự đoán phổ điểm có thể tập trung ở khoảng 6,5 - 7,5. Thí sinh nắm chắc kĩ năng đọc hiểu, trình bày đúng trọng tâm và viết đủ bố cục có nhiều khả năng đạt mức khá. Để đạt từ 8 điểm trở lên, bài làm cần có diễn đạt mạch lạc, phân tích văn bản không chung chung, nghị luận xã hội có luận điểm rõ và dẫn chứng hợp lí. Điểm 9+ vẫn có thể xuất hiện nhưng không nhiều, chủ yếu ở những bài viết sâu sắc, giàu cảm xúc nhưng không sa vào cảm tính. Những phần có thể khiến thí sinh mất điểm nhiều là câu viết đoạn văn học, câu liên hệ ngắn và bài nghị luận xã hội nếu triển khai hời hợt hoặc thiếu giải pháp cụ thể.

Với đề thi này, nhiều học sinh thấy dễ tiếp cận vì chủ đề cảm xúc gần gũi và các câu hỏi cơ bản không quá lạ. Học sinh trung bình có cơ hội hoàn thành bài nếu đọc kĩ ngữ liệu và bám sát yêu cầu. Tuy nhiên, học sinh khá, giỏi có thể chịu áp lực ở phần viết, nhất là khi phải diễn đạt sao cho có chiều sâu, tránh công thức. Đề vì vậy tạo cảm giác vừa sức nhưng không dễ đạt điểm cao tuyệt đối; một số thí sinh có thể tiếc nuối nếu phần nghị luận xã hội chưa đủ sắc hoặc chưa kịp hoàn thiện lập luận./.