Việt Nam có nhiều cái Tết như Tết ông Công, ông Táo; Tết Nguyên đán; Tết Trung Nguyên, Tết Hàn thực… Tên của những cái Tết này có ý nghĩa thế nào?
Ngày 23 tháng Chạp hàng năm là ngày tiễn ông Công, ông Táo về trời nhưng cũng có người gọi là Tết Táo quân. Theo tín ngưỡng dân gian, Táo quân là “thần cai quản việc bếp núc trong mỗi gia đình”.
Theo TS Phạm Văn Lam, nếu xét về câu chữ thì Tết Táo quân và Tết Ông Công, ông Táo là hai cách nói khác nhau.
Tết Táo quân chỉ nói đến một nhân vật là Táo quân hay Ông Táo. Tết Ông Công ông Táo nói đến cả ông Công (vị thần cai quản, bảo vệ đất đai) và ông Táo.
"Tuy nhiên tín ngưỡng dân gian không phân biệt như vậy" - TS Phạm Văn Lam giải thích.
Dân gian chỉ hiểu ông Công ông Táo là vị thần cai quản mọi hoạt động của gia chủ, quyết định sự may rủi, phúc họa của cả gia chủ, ngăn cản sự xâm phạm của ma quỷ, giữ bình yên cho gia đình gia chủ. Cách gọi Tết Ông Công ông Táo nghe quen thuộc và phổ biến hơn, có tính bao quát hơn.
Tiếp sau ngày 23 tháng Chạp sẽ là một ngày lễ quan trọng và lớn nhất đối với người dân Việt Nam, đó là Tết Nguyên đán.
Nguyên đán là ngày đầu năm âm lịch. Nguyên là khởi đầu, đán là buổi sáng. Như vậy, Nguyên đán có nghĩa đen là buổi sáng đầu tiên của năm mới.
Nói đến Tết Nguyên đán thì người ta thường nhắc đến Lễ tất niên, được hiểu như bữa cơm sum họp gia đình trước thềm năm mới và phút giao thừa.
Theo TS Phạm Văn Lam, tất ở đây có nghĩa là xong, hết; niên là năm. Tất niên có nghĩa lúc hay khoảng thời gian sắp hết năm cũ, chuẩn bị đón năm mới.
Còn giao có nghĩa là gặp nhau, giao cắt với nhau; thừa có nghĩa là tiếp lấy, tiếp nhận. Giao thừa là thời điểm chuyển tiếp giữa ngày cuối cùng của năm cũ sang ngày đầu tiên của năm mới. Đó chính là lúc năm cũ qua, năm mới đến, tức 12 giờ đêm ba mươi Tết.
Ngoài những ngày Tết đã đề cập ở trên, Việt Nam còn có ba cái Tết trong năm đều có chữ nguyên là Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên. Đây cũng là ba dịp lễ lớn trong năm theo quan niệm của Đạo giáo và của tín ngưỡng dân gian, tương ứng với các ngày Rằm tháng Giêng (Thượng nguyên), Rằm tháng Bảy (Trung nguyên) và Rằm tháng Mười (Hạ nguyên); là các dịp để cúng bái tổ tiên, thần linh, cầu mong sự bình an, phúc lộc, và tri ân công ơn trời đất.
Cụ thể hơn, Tết Thượng nguyên là lễ hội trăng rằm đầu tiên của năm mới, đánh dấu sự kết thúc của chuỗi ngày Tết Nguyên đán; là dịp quan trọng để cầu chúc cho một năm mới an lành, may mắn, dồi dào sức khoẻ và tài lộc, mưa thuận gió hòa...
Tết Trung nguyên là dịp để tưởng nhớ công ơn cha mẹ, tổ tiên, cầu siêu cho người đã khuất (dân gian còn gọi là rằm xá tội vong nhân).
Tết Hạ nguyên là dịp mừng mùa màng bội thu, cầu sức khỏe, tạ ơn đất trời sau những ngày làm việc vất vả.
TS Phạm Văn Lam cũng giải thích về Tết Hàn Thực (vào ngày mùng 3 tháng 3) và Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5).
Theo đó, Tết Hàn thực hay Tết bánh trôi bánh chay là một ngày tết vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm lịch. Hàn Thực nghĩa là thức ăn lạnh (hàn là lạnh; thực là ăn, thức ăn). Tết Hàn thực là ngày lễ truyền thống quan trọng của người Việt, đặc biệt ở miền Bắc. Vào ngày này, người dân thường làm bánh trôi, bánh chay để dâng cúng tổ tiên nhằm tri ân, tưởng nhớ người đã khuất và thể hiện đạo lí "uống nước nhớ nguồn".
Tết Đoan ngọ, hay còn gọi là Tết Đoan dương, Tết Trùng ngũ hoặc Tết Giết sâu bọ, diễn ra vào ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch hằng năm. Đoan nghĩa là ngay, chính hoặc mở đầu; ngọ là khoảng thời gian từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều. Đoan ngọ nghĩa gốc là ngay, chính lúc ngọ; chính ngọ; lúc mặt trời bắt đầu nằm ngay chính trên đầu, gần trái đất nhất./.
