Luật sư Đinh Thị Chúc, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội tư vấn cho trường hợp người lao động bị công ty chấm dứt hợp đồng lao động do mang thai:

Chị Vũ Thị Hồng ở tỉnh Bắc Ninh nêu thắc mắc:

Chị gái tôi làm việc tại một công ty may mặc ở khu công nghiệp 2 năm nay. Chị ký hợp đồng lao động với công ty thời hạn 3 năm với mức lương 12 triệu đồng/1 tháng. Hai tuần trước, công ty gửi thông báo cho chị tôi về việc chấm dứt hợp đồng lao động với lý do công ty tái cơ cấu, cắt giảm nhân sự do tình kinh doanh khó khăn. Công ty yêu cầu chị tôi phải bàn giao công việc trong vòng 7 ngày và khuyến khích ký đơn xin nghỉ việc. Chị tôi không đồng ý vì cho rằng công ty vẫn đang hoạt động bình thường, không có dấu hiệu thay đổi cơ cấu hay khó khăn kinh tế. Sau đó, qua tìm hiểu nhiều nguồn thông tin, chị tôi được biết thực chất việc công ty chấm dứt hợp đồng với chị là vì chị mang thai 2 tháng, công ty sợ sẽ ảnh hưởng đến công việc. Quá 7 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, chị tôi vẫn đến công ty làm việc thì bị bảo vệ của công ty chặn lại, không cho vào do thẻ nhân viên đã bị xóa khỏi hệ thống, chị tôi không còn là nhân sự công ty. Chị tôi yêu cầu gặp lãnh đạo công ty nhưng không được giải quyết. Xin hỏi việc công ty cho chị tôi nghỉ việc như vậy có đúng không? Chị tôi cần làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?

Theo Luật sư Đinh Thị Chúc, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, với nhóm lao động nữ đang mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, đây là nhóm có mức độ bảo vệ pháp lý đặc biệt cao.

Khoản 3 Điều 137 Bộ luât Lao động 2019 quy định:“Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật. Trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới".

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, tại Điều 42 Bộ luật Lao động cũng có quy định trường hợp người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, tổ chức lại lao động hoặc vì lý do kinh tế không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trợ cấp mất việc.

Vì vậy, trường hợp công ty không có căn cứ chấm dứt hợp đồng mà vẫn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì việc chấm dứt có thể bị xác định là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và phát sinh nghĩa vụ theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019. Theo đó, công ty sẽ phải:

(i) Nhận chị gái của thính giả trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết;

(ii) Trả tiền lương cho những ngày chị thính giả không được làm việc;

(iii) Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho thời gian chị thính giả không được làm việc;

(iv) Trả thêm cho chị thính giả một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Trường hợp công ty không muốn nhận người lao động trở lại làm việc và chị của thính giả đồng ý thì ngoài khoản tiền công ty phải trả theo quy định tại khoản trên và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Để đảm bảo quyền lợi của mình, trong trường hợp này, người lao động không nên ký bất kỳ văn bản nào có nội dung như “đơn xin nghỉ việc”, “thỏa thuận chấm dứt hợp đồng”, “tự nguyện nghỉ việc” nếu thực tế không tự nguyện. Đồng thời, cần lưu lại thông báo chấm dứt hợp đồng, tin nhắn, email, bảng lương, hợp đồng lao động và các chứng cứ về việc mình đến công ty nhưng bị từ chối cho vào làm việc. Một điểm rất quan trọng là nên thể hiện rõ bằng văn bản rằng mình không đồng ý với việc chấm dứt hợp đồng và vẫn có nhu cầu tiếp tục làm việc. Điều này sẽ giúp bảo vệ người lao động trước khả năng công ty sau này cho rằng đã tự ý nghỉ việc.

Ngoài ra, Theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động 2019, tranh chấp về trường hợp người lao động bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là tranh chấp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động. Vì vậy, nếu cho rằng công ty chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, người lao động có quyền trực tiếp yêu cầu Tòa án giải quyết nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.