Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) vừa ban hành Thông tư số 64 quy định mã số, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm, xếp lương và chế độ làm việc đối với giáo viên trung học nghề.

Điểm mới quan trọng của Thông tư là lần đầu tiên chức danh riêng cho giáo viên trung học nghề được xác định với 3 hạng chức danh gồm hạng I, hạng II và hạng III, đồng bộ với hệ thống chức danh nhà giáo trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Chuẩn nghề nghiệp bao gồm các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, trình độ đào tạo, bồi dưỡng và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ. Thông tư yêu cầu trình độ đào tạo đối với hai nhóm chính là giáo viên dạy phần kiến thức văn hóa trung học phổ thông (THPT) và giáo viên dạy phần chuyên môn nghề.

Trong đó, quy định giáo viên dạy phần chuyên môn nghề phải đáp ứng năng lực sư phạm kết hợp với năng lực thực hành nghề (khi dạy thực hành, tích hợp), phù hợp đặc thù giáo dục nghề nghiệp tiếp cận yêu cầu về “năng lực thực hành nghề”, đồng bộ với yêu cầu đối với giảng viên cao đẳng, giáo viên trung cấp dạy thực hành và giáo viên sơ cấp.

Thông tư quy định bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên một số ngành đào tạo của giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu dạy thực hành phần chuyên môn nghề trong chương trình giáo dục trung học nghề. Quy định này vừa nâng cao yêu cầu về chất lượng đội ngũ, vừa tạo sự mở và linh hoạt, không làm phát sinh thủ tục hành chính không cần thiết.

Thông tư có tính kế thừa, công nhận đối với các văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận về năng lực sư phạm và chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp, đồng thời có quy định chuyển tiếp để nhà giáo giáo dục nghề nghiệp có thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giảng dạy các chương trình đào tạo trong cùng cơ sở.

Bộ GD-ĐT khẳng định, cách tiếp cận này tạo điều kiện thu hút nhân lực có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn từ nhiều lĩnh vực tham gia giảng dạy giáo dục nghề nghiệp như nghệ nhân, kĩ sư, bác sĩ, thầy thuốc, vận động viên hoặc người đạt giải thưởng nghề nghiệp quốc gia, quốc tế…

Quy định này có ý nghĩa quan trọng vì giáo dục nghề nghiệp cần có đội ngũ am hiểu sâu về công nghệ, kĩ thuật và thực tiễn nghề nghiệp.

Giáo viên được bố trí vào vị trí việc làm nào sẽ được bổ nhiệm hạng chức danh tương ứng

Về bổ nhiệm, xếp lương, Thông tư quy định giáo viên được bố trí vào vị trí việc làm nào thì được bổ nhiệm vào hạng chức danh tương ứng với vị trí đó và phải đáp ứng chuẩn nghề nghiệp của hạng được bổ nhiệm.

Cụ thể, giáo viên trung học nghề hạng III - mã số V.09.02.14 được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A0 từ hệ số lương 2,10 đến hệ số lương 4,89 đối với viên chức có trình độ cao đẳng hoặc có năng lực thực hành nghề quy định tại Thông tư; hoặc được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A1, từ hệ số lương 2,34 đến hệ số lương 4,98 đối với viên chức có trình độ đại học trở lên;

Giáo viên hạng II - mã số V.09.02.13 được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2, nhóm A2.2 từ hệ số lương 4,0 đến hệ số lương 6,38;

Giáo viên hạng I - mã số V.09.02.12 được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2, nhóm A2.1 từ hệ số lương 4,40 đến hệ số lương 6,78.

Cũng theo quy định tại thông tư, viên chức đã được bổ nhiệm vào các hạng chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành giáo dục nghề nghiệp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc các chức danh giáo viên trung cấp, giáo viên sơ cấp hoặc chức danh tương đương theo quy định của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT được bổ nhiệm hạng chức danh giáo viên trung học nghề tương ứng.

Theo đó, bổ nhiệm hạng III - mã số V.09.02.14 đối với: giáo viên giáo dục nghề nghiệp lý thuyết (hạng III) - Mã số V.09.02.07; giáo viên giáo dục nghề nghiệp thực hành (hạng III) - Mã số V.09.02.08; giáo viên trung cấp hạng III - Mã số V.09.02.07; giáo viên sơ cấp hạng II - Mã số V.09.02.10; việc xếp lương thực hiện theo điểm a khoản 1 của Thông tư;

Bổ nhiệm hạng II - mã số V.09.02.13 đối với giáo viên giáo dục nghề nghiệp chính (hạng II) - Mã số V.09.02.06; giáo viên sơ cấp hạng I - Mã số V.09.02.11; việc xếp lương thực hiện theo điểm b khoản 1 của Thông tư;

Bổ nhiệm hạng I - mã số V.09.02.12 đối với giáo viên giáo dục nghề nghiệp cao cấp (hạng I) - Mã số V.09.02.05; giáo viên trung cấp hạng II - Mã số V.09.02.06; việc xếp lương thực hiện theo điểm c khoản 1 của Thông tư.

Giáo viên có thể giảng dạy kiến thức THPT và phần chuyên môn nghề

Thông tư thiết kế chế độ làm việc riêng cho giáo viên trung học nghề theo hai nhóm nhiệm vụ: dạy phần kiến thức chương trình THPT và dạy phần chuyên môn nghề.

Giáo viên đáp ứng chuẩn nghề nghiệp có thể giảng dạy đồng thời cả phần kiến thức THPT và phần chuyên môn nghề trong cùng một năm học.

Định mức giờ chuẩn được xác định theo phần có khối lượng giảng dạy thực tế nhiều hơn. Nếu khối lượng bằng nhau thì áp dụng định mức của giáo viên dạy phần chuyên môn nghề. Vì vậy, giáo viên trung học nghề không bị áp một định mức giờ chuẩn cứng nhắc mà định mức được xác định theo nhiệm vụ và nội dung giảng dạy thực tế.

Trong đó, thời gian làm việc được thiết kế phù hợp với đặc thù từng nhóm: 42 tuần đối với giáo viên dạy phần kiến thức THPT và 44 tuần đối với giáo viên dạy phần chuyên môn nghề.

Cùng với đó, các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, cập nhật kĩ năng thực hành và công nghệ mới được quy định trong chế độ làm việc. Tùy ngành, nghề giảng dạy, nhiệm vụ được phân công, giáo viên trung học nghề được linh hoạt thực hiện các nhiệm vụ này thông qua cơ chế giảm định mức hoặc quy đổi ra giờ chuẩn theo quy định.