Theo thống kê từ Khoa Nhi Hô hấp, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn- thành phố Hà Nội, khoảng 41% trẻ nhập viện điều trị các bệnh lý hô hấp có liên quan đến phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae). Các chuyên gia cảnh báo, khi trẻ nhiễm các chủng phế cầu kháng thuốc, hiệu quả điều trị có thể bị suy giảm đáng kể, làm tăng nguy cơ xuất hiện các biến chứng nghiêm trọng như viêm phổi nặng, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết và nguy cơ tử vong cao hơn.
Một trường hợp điển hình là bệnh nhi T.L Đan (8 tháng tuổi, Hà Nội) nhập viện trong tình trạng ho nhiều, tăng tiết đờm và viêm phổi. Qua các xét nghiệm vi sinh, trẻ được xác định đồng nhiễm phế cầu khuẩn và Adenovirus. Sự kết hợp giữa tác nhân vi khuẩn và virus làm bệnh cảnh lâm sàng trở nên phức tạp hơn, buộc các bác sĩ phải điều chỉnh phác đồ điều trị.
“Bé sốt kéo dài, suy hô hấp, nằm viện từ 28 tháng 5 là đến bây giờ hôm nay là 14 ngày rồi. Vì bạn ấy không đáp ứng thuốc nên bác sĩ điều trị phải thay đổi, chuyển loại thuốc khác con mới đỡ dần” – chị Hải Yến - mẹ bệnh nhi cho biết.
Theo chị Hải Yến, trẻ sốt kéo dài và xuất hiện tình trạng suy hô hấp. Sau hơn hai tuần điều trị nội trú, bệnh nhi mới ghi nhận đáp ứng lâm sàng tốt hơn sau khi được thay đổi kháng sinh phù hợp theo kháng sinh đồ.
Một trường hợp khác là bệnh nhi P.H Linh (14 tháng tuổi, Thanh Trì, Hà Nội) được xác định nhiễm phế cầu khuẩn kháng thuốc, dẫn đến đáp ứng điều trị chậm và kéo dài thời gian nằm viện.
TS.BS Phan Thị Kim Dung, Phó Trưởng khoa Nhi Hô hấp, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn cho biết, kết quả xét nghiệm nuôi cấy dịch tỵ hầu cho thấy trẻ dương tính với phế cầu khuẩn với mật độ cao > 10 mũ 6 CFU/ml. Chủng vi khuẩn này kháng với Azithromycin, Cefuroxim khiến hiệu quả điều trị bị ảnh hưởng, bệnh tiến triển nặng và kéo dài trên 10 ngày điều trị.
Đáng chú ý, bệnh nhi T.L Đan đã được tiêm vaccine phòng phế cầu trước đó nên mức độ biến chứng không quá nghiêm trọng. Theo các bác sĩ, ở những trẻ chưa được tiêm chủng đầy đủ, nguy cơ bệnh diễn tiến nhanh và xuất hiện biến chứng nặng có thể cao hơn đáng kể.
Gia tăng các ca bệnh nặng và áp lực điều trị
Các chuyên gia ghi nhận số lượng trẻ nhập viện do các bệnh lý liên quan đến phế cầu khuẩn đang tăng lên trong thời gian gần đây. Không chỉ các trường hợp viêm đường hô hấp trên hay viêm tai giữa, nhiều bệnh nhi còn nhập viện trong tình trạng viêm phổi nặng hoặc viêm màng não.
TS.BS Phan Thị Kim Dung cho biết, mô hình lưu hành của phế cầu khuẩn hiện nay không còn tập trung theo mùa như trước mà xuất hiện rải rác quanh năm. Tần suất trẻ phải hỗ trợ hô hấp, sử dụng kháng sinh phổ rộng hoặc điều trị hồi sức tích cực cũng gia tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước.
Theo các chuyên gia, nhiều yếu tố đang góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh do phế cầu khuẩn ở trẻ em, bao gồm ô nhiễm môi trường, mật độ tiếp xúc cộng đồng cao, tỷ lệ tiêm chủng chưa đầy đủ và tình trạng sử dụng kháng sinh không hợp lý trong cộng đồng.
Bệnh phế cầu kháng thuốc làm gia tăng nguy cơ biến chứng
Kháng kháng sinh hiện được xem là một trong những thách thức lớn nhất trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn nói chung và phế cầu nói riêng. Thực tế lâm sàng cho thấy không ít phụ huynh tự ý mua thuốc hoặc sử dụng kháng sinh khi chưa có chỉ định từ bác sỹ, dẫn đến nguy cơ hình thành và lan rộng các chủng vi khuẩn kháng thuốc.
Tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, các kỹ thuật chẩn đoán hiện đại như nuôi cấy và định lượng vi sinh, xét nghiệm PCR đa mồi và các xét nghiệm miễn dịch chuyên sâu đạt chuẩn ISO đã được triển khai từ rất sớm, nhằm xác định chính xác căn nguyên gây bệnh và đặc điểm kháng thuốc của vi khuẩn. Qua theo dõi thực tế, tỷ lệ trẻ nhiễm phế cầu kháng thuốc hoặc đa kháng thuốc (kháng từ ba nhóm kháng sinh trở lên) chiếm tỷ lệ đáng kể và có xu hướng gia tăng.
Khi mắc các chủng phế cầu kháng thuốc, trẻ thường phải sử dụng kháng sinh thế hệ cao, thế hệ mới, phối hợp nhiều loại kháng sinh hoặc áp dụng phác đồ liều cao. Điều này không chỉ kéo dài thời gian điều trị mà còn làm gia tăng chi phí y tế và nguy cơ xuất hiện các biến chứng nghiêm trọng.
Các biến chứng thường gặp của nhiễm phế cầu kháng thuốc bao gồm viêm phổi nặng, suy hô hấp, tràn dịch màng phổi và nhu cầu hỗ trợ hô hấp xâm nhập. Đặc biệt, viêm màng não do phế cầu là một trong những nỗi ám ảnh lớn nhất trong nhi khoa và hồi sức cấp cứu. Phế cầu có độc lực cực mạnh nhờ lớp vỏ polysaccharide dày giúp né tránh hệ miễn và gây phản ứng viêm mủ mãnh liệt ở màng não, có thể để lại những di chứng thần kinh lâu dài như mất thính lực, giảm thị lực, chậm phát triển tâm thần – vận động hoặc bại não, liệt vận động... Trong những trường hợp nặng, vi khuẩn có thể xâm nhập vào máu gây nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn, suy đa cơ quan và tử vong trong thời gian ngắn nếu không được điều trị kịp thời.
Tiêm chủng là biện pháp dự phòng hiệu quả
Trước thực trạng gia tăng các trường hợp nhiễm phế cầu kháng thuốc, các chuyên gia khuyến cáo phụ huynh không tự ý sử dụng kháng sinh cho trẻ khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Đồng thời, cần thực hiện đầy đủ lịch tiêm chủng, duy trì vệ sinh môi trường sống, vệ sinh cá nhân và nâng cao thể trạng cho trẻ thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý.
Theo TS.BS Phan Thị Kim Dung, vaccine phòng phế cầu hiện là biện pháp dự phòng chủ động và hiệu quả nhất đối với các bệnh do phế cầu khuẩn gây ra. Các nghiên cứu cho thấy tiêm chủng đầy đủ có thể làm giảm khoảng 80–90% nguy cơ mắc các bệnh phế cầu xâm lấn nghiêm trọng như viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết và viêm phổi nặng. Ngay cả trong trường hợp trẻ vẫn mắc bệnh sau tiêm chủng, mức độ nặng và nguy cơ biến chứng thường giảm đáng kể so với nhóm chưa được bảo vệ bằng vaccine.
Các chuyên gia nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh kháng kháng sinh ngày càng gia tăng, việc tăng tỷ lệ bao phủ vaccine phòng phế cầu không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe trẻ em mà còn góp phần giảm sử dụng kháng sinh, hạn chế sự xuất hiện và lan rộng của các chủng vi khuẩn kháng thuốc trong cộng đồng.
