Trong những trường hợp như vậy, việc xác định chính xác vùng sinh động kinh được xem là thách thức lớn nhất của phẫu thuật động kinh. Chỉ cần xác định sai vị trí hoặc phạm vi can thiệp quá rộng, người bệnh có thể tiếp tục lên cơn hoặc đối mặt với nguy cơ để lại di chứng thần kinh.

Nhờ làm chủ các kỹ thuật ghi điện não đồ nội sọ theo tiêu chuẩn quốc tế, các bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương đã giải được bài toán này, thực hiện thành công một trong những ca phẫu thuật động kinh phức tạp nhất từ trước đến nay. Thành công không chỉ mang lại cơ hội hồi phục cho bệnh nhi mà còn đánh dấu bước tiến quan trọng trong điều trị động kinh kháng thuốc ở trẻ em tại Việt Nam.

Từng bước làm chủ những kỹ thuật vốn chỉ triển khai ở các trung tâm chuyên sâu

Bệnh viện Nhi Trung ương là một trong những cơ sở đầu tiên tại Việt Nam triển khai phẫu thuật động kinh ở trẻ em từ khoảng năm 2010. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, chỉ những trường hợp có tổn thương não rõ ràng, dễ xác định trên hình ảnh học mới có nhiều cơ hội được chỉ định phẫu thuật.

Từ năm 2017 đến nay, bệnh viện từng bước làm chủ các kỹ thuật ghi điện não đồ nội sọ theo nhiều cấp độ, từ điện cực dưới màng cứng, điện cực sâu đến kỹ thuật kích thích lập bản đồ chức năng não. Đây là bước phát triển quan trọng giúp các bác sĩ tiếp cận được những ca bệnh ngày càng phức tạp, thay vì chỉ điều trị các trường hợp có tổn thương điển hình như trước.

"Trước đây những ca phẫu thuật động kinh thường dễ hơn, tổn thương dễ nhận diện hơn thì mình có thể mổ. Những năm gần đây khi làm được các kỹ thuật chuyên sâu hơn thì những ca động kinh phức tạp hơn, khó hơn mình có thể giải quyết được và giải quyết một cách trọn vẹn hơn, kết quả tốt hơn. Đó là cả một quá trình phát triển từ những kỹ thuật đơn giản đến những kỹ thuật ngày càng chuyên sâu" - TS.BS Cao Vũ Hùng, Giám đốc Trung tâm Thần kinh cho biết.

ThS.BSCKII Nguyễn Thị Thảo, Khoa Thăm dò chức năng, Trung tâm Thần kinh chia sẻ, việc làm chủ đồng thời kỹ thuật điện cực dưới màng cứng và điện cực sâu đặc biệt có ý nghĩa đối với những trường hợp không phát hiện bất thường trên MRI, có nhiều tổn thương trên não hoặc ổ sinh động kinh nằm sát các vùng chức năng quan trọng. Đây đều là những nhóm bệnh nhân vốn được xem là rất khó xác định vị trí khởi phát cơn và khó lựa chọn phương án can thiệp tối ưu.

Khi "ổ động kinh" là một vùng... không thể nhìn thấy

Khó khăn lớn nhất của phẫu thuật động kinh là xác định chính xác vùng sinh động kinh trước khi can thiệp.

ThS.BSCKII Nguyễn Thị Thảo cho biết, ở nhiều bệnh nhân, đặc biệt là những trường hợp không có tổn thương rõ ràng trên cộng hưởng từ, vùng sinh động kinh thực chất là một "vùng chức năng" chứ không phải một tổn thương có thể quan sát trực tiếp trên phim chụp.

"Vùng sinh động kinh thực tế là một vùng ảo. Mình phải dựa vào tất cả các triệu chứng, xét nghiệm và các kỹ thuật khác nhau để xác định vùng đó. Nhiều khi đây thực sự là một thách thức đối với các bác sĩ thăm dò chức năng".

Để xác định được "vùng ảo" này, các bác sĩ phải tổng hợp đồng thời nhiều nguồn dữ liệu, từ biểu hiện lâm sàng, điện não đồ video, cộng hưởng từ, PET cho đến các kỹ thuật ghi điện não đồ nội sọ. Trên cơ sở đó, ê-kíp xây dựng bản đồ chức năng não, xác định chính xác vị trí khởi phát cơn động kinh cũng như mối liên quan với các vùng chức năng quan trọng trước khi quyết định phạm vi can thiệp.

Ranh giới của cuộc phẫu thuật chỉ tính bằng từng milimét

Ngay cả khi đã xác định được vùng sinh động kinh, thách thức vẫn chưa kết thúc. Mục tiêu của phẫu thuật là loại bỏ tối đa vùng gây cơn nhưng vẫn phải bảo tồn các chức năng quan trọng như vận động, cảm giác, ngôn ngữ và trí nhớ.

Theo BSCKII Lê Nam Thắng, Trưởng khoa Ngoại Thần kinh, Phó Giám đốc Trung tâm Thần kinh, trong nhiều trường hợp, ranh giới giữa vùng cần cắt bỏ và vùng chức năng chỉ cách nhau vài milimét. Mỗi quyết định trong phòng mổ đều phải được cân nhắc rất kỹ để vừa kiểm soát được cơn động kinh, vừa hạn chế tối đa nguy cơ để lại di chứng.

"Nhiều khi trong phẫu thuật phải thảo luận với nhau từng tí một, nhiều khi tranh luận chỉ vì 1-2 mm tổ chức não với mục tiêu là cắt được hết vùng sinh động kinh nhưng không xâm phạm đến vùng chức năng. Những vùng liên quan đến vận động, cảm giác, vùng nói hay vùng nhìn đều phải được bảo tồn".

Chính việc lập bản đồ chức năng não bằng hệ thống ghi điện não đồ nội sọ đã giúp ê-kíp xác định chính xác giới hạn an toàn trước khi can thiệp. Và giá trị của những kỹ thuật này được thể hiện rõ nhất qua ca bệnh đặc biệt mà các bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương vừa điều trị thành công.

Hành trình chinh phục một trong những ca bệnh khó nhất

Những thách thức đó đã được thể hiện rõ trong trường hợp bệnh nhi T.A.C., 14 tuổi - một trong những ca động kinh phức tạp nhất mà Bệnh viện Nhi Trung ương từng điều trị.

Điều khiến ca bệnh trở nên đặc biệt khó không chỉ là hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) sọ não gần như không phát hiện tổn thương, mà còn bởi vùng sinh động kinh nằm sâu, bắt qua rãnh trung tâm và liên quan trực tiếp đến vùng vận động. Điều này đặt ê-kíp điều trị trước một bài toán rất khó: nếu cắt bỏ không triệt để, trẻ vẫn tiếp tục xuất hiện các cơn động kinh; nhưng nếu mở rộng phạm vi can thiệp quá mức, nguy cơ ảnh hưởng chức năng vận động là rất lớn.

Sau khi phân tích toàn diện các dữ liệu lâm sàng, điện não đồ video, PET cùng nhiều kết quả thăm dò khác, các bác sĩ thống nhất lựa chọn chiến lược phẫu thuật theo hai giai đoạn.

Ở giai đoạn đầu, ê-kíp tiến hành mở hộp sọ, đặt tổng cộng 98 điện cực nội sọ, bao gồm điện cực dưới màng cứng và điện cực sâu, để ghi nhận hoạt động điện não liên tục. Sau ba ngày theo dõi, khi đã xác định chính xác vùng sinh động kinh và mối liên quan với các vùng chức năng, các bác sĩ tiếp tục thực hiện giai đoạn hai nhằm cắt bỏ vùng gây cơn.

Theo ThS.BSCK II Nguyễn Thị Thảo, thành công của ca phẫu thuật là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa, từ nội thần kinh, ngoại thần kinh, thăm dò chức năng, chẩn đoán hình ảnh đến gây mê hồi sức. Trong suốt quá trình điều trị, từng quyết định đều được cân nhắc kỹ lưỡng để đạt mục tiêu kiểm soát cơn động kinh nhưng vẫn bảo tồn tối đa chức năng não.

"Trong ca phẫu thuật này, bác sĩ nội thần kinh và bác sĩ ngoại thần kinh phải phối hợp cực kỳ chặt chẽ. Chúng tôi phải bảo vệ từng milimét, từng hồi não, từng rãnh cuộn não để vừa bảo tồn vận động cho bệnh nhân, vừa cố gắng lấy tối đa vùng sinh động kinh".

Đến nay, bệnh nhi chưa ghi nhận cơn động kinh tái phát. Khả năng vận động, trí nhớ và sinh hoạt hằng ngày đều cải thiện rõ rệt. Theo chia sẻ của gia đình, trẻ đã có thể tự đi lại và từng bước trở lại cuộc sống bình thường.

Mở thêm cơ hội cho trẻ mắc động kinh kháng thuốc

Khoảng 20-25% trẻ mắc động kinh thuộc nhóm động kinh kháng thuốc. Tuy nhiên, không phải tất cả đều có chỉ định phẫu thuật. Để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, người bệnh cần được đánh giá toàn diện tại các trung tâm chuyên sâu bằng nhiều kỹ thuật thăm dò nhằm xác định chính xác vùng sinh động kinh.

TS.BS Cao Vũ Hùng cho biết, mục tiêu của điều trị không chỉ là kiểm soát cơn động kinh mà còn hướng tới giảm phụ thuộc thuốc, tạo điều kiện để trẻ phục hồi khả năng học tập, phát triển trí tuệ và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Việc làm chủ các kỹ thuật ghi điện não đồ nội sọ đã giúp Bệnh viện Nhi Trung ương mở rộng khả năng điều trị đối với nhiều trường hợp trước đây rất khó hoặc gần như không thể can thiệp, đặc biệt là những bệnh nhân không có bất thường trên MRI hoặc có ổ sinh động kinh nằm sát các vùng chức năng quan trọng.

Đây cũng là nền tảng để bệnh viện tiếp tục tiếp cận và triển khai các kỹ thuật tiên tiến trong điều trị động kinh, từng bước thu hẹp khoảng cách với các trung tâm chuyên sâu trên thế giới. Quan trọng hơn, nhiều trẻ mắc động kinh kháng thuốc tại Việt Nam sẽ có thêm cơ hội được tiếp cận các phương pháp điều trị hiện đại ngay trong nước, giảm gánh nặng cho gia đình và nâng cao triển vọng phục hồi lâu dài./.