Khoảng 16.000 trẻ chào đời mỗi năm mang dị tật tim bẩm sinh

Mỗi đứa trẻ sinh ra đều mang theo kỳ vọng được lớn lên khỏe mạnh. Thế nhưng, với không ít gia đình, hành trình ấy lại bắt đầu bằng nỗi sợ hãi khi phát hiện con mắc tim bẩm sinh. Có những trường hợp được can thiệp kịp thời, nhưng cũng không ít em nhỏ chỉ được chẩn đoán khi bệnh đã trở nặng, buộc phải đối mặt với phẫu thuật tim ngay từ những tháng đầu đời.

Vợ chồng chị Nguyễn Thu Hà- sống tại tỉnh Hưng Yên không giấu được sự bàng hoàng khi biết con mắc thông liên thất – một dạng tim bẩm sinh phổ biến nhưng có thể để lại hậu quả nặng nề nếu không được can thiệp kịp thời. Khi ấy, con chị mới hơn một tháng tuổi nhưng đã phải bước vào ca phẫu thuật tim.

“Con nhà em bị thông liên thất dưới động mạch chủ, chỉ sau một tháng không can thiệp đã bị hở van tim” -chị Hà chia sẻ.

Theo các bác sĩ, thông liên thất nếu không được phát hiện và xử trí sớm có thể gây tổn thương van động mạch chủ, lâu dài dẫn tới suy tim. Với trường hợp của con chị Hà, phẫu thuật sớm là lựa chọn cần thiết để ngăn biến chứng tiến triển.

Sau hơn 4 giờ phẫu thuật, lỗ thông liên thất đã được xử lý triệt để. Tuy nhiên, cháu vẫn cần được theo dõi lâu dài để đánh giá mức độ hở van và khả năng can thiệp tiếp theo nếu cần.

“Bác sĩ dặn phải theo dõi 10–15 năm xem mức độ hở van có tiến triển không. Hiện tại đã xử lý xong thông liên thất, thấy con ngủ sâu giấc hơn, gia đình cũng yên tâm phần nào”- chị Hà nói.

Không phải trường hợp tim bẩm sinh nào cũng được phát hiện sớm. Con của chị Nguyễn Thị Len- sống tại thành phố Hải Phòng, chỉ được chẩn đoán khi bệnh đã biểu hiện rõ bằng các triệu chứng nặng. Ho, khó thở kéo dài khiến cháu được điều trị viêm phổi nhiều ngày nhưng không cải thiện. Chỉ đến khi chuyển lên tuyến tỉnh, các bác sĩ mới phát hiện cháu mắc thông liên thấp bẩm sinh.

“Đi siêu âm nhiều lần nhưng không phát hiện bất thường. Khi sinh cũng không được tầm soát gì vì đẻ dễ. Đến lúc bác sĩ bảo con phải mổ ngay, vợ chồng tôi thực sự hoang mang”- chị Len chia sẻ.

Sinh ra nặng 2,9kg nhưng sau một tháng chỉ tăng thêm khoảng 300 gram, những dấu hiệu như khó thở, da tái khi khóc… đều bị gia đình bỏ qua vì nghĩ là biểu hiện sinh lý bình thường ở trẻ nhỏ.

“Bác sĩ nói con không lên cân do tim bẩm sinh, máu không lưu thông tốt, tràn sang phổi gây viêm phổi”- chị Len nói.

Hai câu chuyện, hai đứa trẻ, nhưng cùng chung một thực tế: tim bẩm sinh chỉ được phát hiện khi bệnh đã trở nặng. Điều này không chỉ khiến việc điều trị trở nên phức tạp hơn mà còn tạo áp lực tâm lý lớn cho gia đình.

Phát hiện sớm giúp thay đổi tiên lượng điều trị tim bẩm sinh

Mỗi năm Việt Nam có khoảng 16.000 trẻ sinh ra mắc tim bẩm sinh, trong đó nhiều trường hợp hoàn toàn có thể chủ động lên kế hoạch điều trị ngay từ khi còn trong bụng mẹ nếu được phát hiện sớm.

Trao đổi với phóng viên VOV2, PGS.TS Đỗ Anh Tiến, Phó Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược, cho biết: khoảng 10 năm trước, dị tật tim thai vẫn là thách thức lớn do hạn chế về phương tiện chẩn đoán và kỹ thuật điều trị. Tuy nhiên, đến nay, với sự phát triển mạnh mẽ của siêu âm tim thai và các phương pháp can thiệp tim mạch nhi, nhiều bệnh lý tim bẩm sinh đã không còn là “án treo” với thai nhi.

“Điều quan trọng nhất là thời điểm phát hiện. Khi dị tật tim được chẩn đoán sớm trong thai kỳ, các bác sĩ có thể xây dựng phác đồ theo dõi và kế hoạch điều trị cho trẻ ngay từ trước khi chào đời. Khi đó, việc xử trí sau sinh sẽ chủ động hơn rất nhiều”- PGS.TS Đỗ Anh Tiến nhấn mạnh.

Hiện nay, nhờ các hệ thống siêu âm hiện đại từ 2D, 3D đến 4D, 5D với độ phân giải cao, nhiều bất thường tim mạch ở thai nhi có thể được phát hiện sớm hơn trước. Theo PGS.TS Đỗ Anh Tiến, một số dị tật tim thai có thể được nhận diện từ tuần thứ 12–16 của thai kỳ; phổ biến hơn là giai đoạn 16–20 tuần. Việc rút ngắn thời gian phát hiện giúp tăng đáng kể cơ hội can thiệp và tiên lượng sống cho trẻ.

PGS.TS Đỗ Anh Tiến khẳng định: dị tật tim thai không đồng nghĩa với không thể can thiệp hay điều trị. Phần lớn các bệnh tim bẩm sinh hiện nay đều có phương án xử trí hiệu quả, nếu không kèm theo những dị tật nặng khác liên quan đến gen hoặc nhiễm sắc thể.

“Có những bệnh lý tim bẩm sinh cần can thiệp rất sớm ngay sau khi trẻ chào đời, thậm chí phải chuẩn bị từ trong thai kỳ”, bác sĩ Tiến cho biết. Đó là các nhóm bệnh tim bẩm sinh phức tạp như: các bệnh phụ thuộc ống động mạch, các bất thường nặng của van động mạch phổi hoặc van động mạch chủ, hoặc một số trường hợp hẹp khít van tim có thể được cân nhắc can thiệp ngay từ giai đoạn bào thai.

Ngược lại, với những bệnh tim bẩm sinh thường gặp như thông liên thất, thông liên nhĩ, còn ống động mạch hay tứ chứng Fallot, trẻ không nhất thiết phải can thiệp ngay trong giai đoạn sơ sinh. Các bác sĩ sẽ theo dõi sát và lựa chọn thời điểm phẫu thuật phù hợp, thường là sau vài tháng tuổi, nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.

Hiện nay, việc phát hiện sớm dị tật tim thai cho phép các bác sĩ chủ động xây dựng kế hoạch điều trị ngay từ khi thai nhi còn trong bụng mẹ. Trong thực tế, Việt Nam đã có những trường hợp can thiệp tim ngay ở giai đoạn bào thai đối với một số dị tật tim bẩm sinh. PGS Đỗ Anh Tiến nhấn mạnh, với sự phát triển của chuyên môn và kỹ thuật hiện nay, dị tật tim thai không còn là thách thức quá lớn đối với các bác sĩ Việt Nam

Từ góc độ bác sĩ tim mạch nhi, bác sĩ Tiến nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của việc khám thai đúng mốc, thực hiện đầy đủ các chỉ định siêu âm. Điều này không chỉ giúp theo dõi sự phát triển của thai nhi, mà còn là cách hiệu quả nhất để phát hiện sớm những bất thường tiềm ẩn, trong đó có dị tật tim bẩm sinh.

Với những gia đình không may nhận được thông tin thai nhi có bất thường tim mạch, theo PGS.TS Đỗ Anh Tiến, điều quan trọng nhất là giữ tâm lý ổn định và tin tưởng vào đội ngũ y tế. “Bác sĩ cần đồng hành cùng gia đình từ khi phát hiện bệnh cho đến khi trẻ chào đời và trong suốt quá trình điều trị. Còn với cha mẹ, niềm tin và sự hợp tác chặt chẽ với bác sĩ sẽ giúp mang lại cơ hội sống tốt nhất cho con” - bác sĩ Tiến chia sẻ.