Những bất cập trong quản lý an toàn thực phẩm hiện nay

Thực phẩm giả, thực phẩm không rõ nguồn gốc, các vụ ngộ độc tập thể hay những vụ vi phạm nghiêm trọng trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm thời gian qua đã làm dấy lên nhiều lo ngại về hiệu quả của công tác quản lý an toàn thực phẩm. Điều khiến người dân băn khoăn là vì sao thực phẩm không an toàn vẫn lọt qua nhiều khâu để đến được bữa ăn của người dân?

Chị Ngọc Diệp (ở Hà Nội) cho biết, mỗi lần đi chợ, trước những mớ rau, con cá, miếng thịt nhìn bề ngoài có vẻ tươi ngon nhưng chị vẫn băn khoăn không biết sản phẩm ấy đã được nuôi trồng thế nào, xuất xứ từ đâu, liệu có sử dụng chất cấm trong quá trình sản xuất hay không? Sau hàng loạt vụ việc thực phẩm giả và vi phạm an toàn thực phẩm bị phát hiện gần đây, chị mong Luật An toàn thực phẩm sửa đổi sẽ quy định cụ thể hơn và có chế tài đủ sức răn đe đối với các hành vi vi phạm.

Cùng chung tâm lý đó, anh Nguyễn Anh Tuấn (ở Hà Nội) cho rằng, việc cẩn trọng lựa chọn thực phẩm hay hạn chế sử dụng thức ăn đường phố chỉ là giải pháp trước mắt. Điều người dân kỳ vọng là các cơ quan quản lý có những giải pháp căn cơ hơn để bảo đảm nguồn thực phẩm cung cấp cho thị trường thực sự an toàn, đồng thời tăng cường kiểm tra thường xuyên nhằm nâng cao ý thức của các cơ sở kinh doanh.

Không chỉ người dân, các cơ quan quản lý cũng đang đứng trước nhiều thách thức khi chuỗi cung ứng thực phẩm ngày càng phức tạp, kéo dài từ sản xuất, vận chuyển, giết mổ, chế biến đến tiêu dùng. Sự phát triển của thương mại điện tử và các dịch vụ giao đồ ăn càng khiến việc kiểm soát an toàn thực phẩm trở nên khó khăn hơn.

Theo TS.Trần Thị Dung, Phó Chủ tịch Hiệp hội thực phẩm minh bạch, thực phẩm không an toàn vẫn có thể lọt qua nhiều "cửa kiểm soát" bởi cả quy định pháp luật và quá trình thực thi vẫn còn những khoảng trống. Đây là điều kiện để một số tổ chức, cá nhân bất chấp quy định, đưa thực phẩm không bảo đảm an toàn đến chợ, nhà hàng, bếp ăn tập thể và bữa ăn của từng gia đình.

Tuy nhiên, theo TS. Trần Thị Dung, hạn chế lớn nhất của phương thức quản lý hiện nay không nằm ở việc quản lý theo từng công đoạn, mà ở cách tiếp cận quản lý chưa theo hệ thống.

Theo bà, đến nay vẫn chưa xây dựng được đầy đủ hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với từng loại hình cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Trong khi đó, hoạt động quản lý lại tập trung nhiều vào việc đăng ký công bố sản phẩm thay vì kiểm soát điều kiện sản xuất và quá trình tạo ra sản phẩm.

"Việc chỉ chú trọng đăng ký công bố sản phẩm, công bố tiêu chuẩn mà không tập trung kiểm soát quá trình sản xuất và hậu kiểm thì các bộ, ngành sẽ không bao giờ có đủ nguồn lực để thực thi hiệu quả Luật An toàn thực phẩm", TS. Trần Thị Dung phân tích.

Chính trong bối cảnh đó, việc chuyển từ quản lý theo từng khâu sang quản lý dựa trên đánh giá và kiểm soát nguy cơ xuyên suốt chuỗi cung ứng là yêu cầu tất yếu và phù hợp với xu hướng của thế giới.

Kiểm soát nguy cơ theo chuỗi: Chuyển từ xử lý sự cố sang chủ động phòng ngừa

Theo TS. Trần Thị Dung, điểm đột phá quan trọng nhất của dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) là chuyển từ quản lý theo từng khâu sang quản lý dựa trên đánh giá và kiểm soát nguy cơ xuyên suốt chuỗi cung ứng thực phẩm. Đây không chỉ là sự thay đổi về phương thức quản lý mà còn là sự thay đổi căn bản về tư duy, từ xử lý sự cố sang chủ động phòng ngừa.

Bà cho rằng, để hiểu đúng phương thức quản lý mới, trước hết cần hiểu rõ khái niệm "nguy cơ" trong an toàn thực phẩm.

Theo đó, nguy cơ bắt nguồn từ các mối nguy có thể có sẵn trong thực phẩm hoặc xuất hiện trong toàn bộ quá trình sản xuất, chế biến và lưu thông thực phẩm. Các mối nguy này có thể là mối nguy sinh học, hóa học hoặc vật lý. Tuy nhiên, không phải mối nguy nào cũng trở thành nguy cơ gây hại cho sức khỏe con người. Điều đó phụ thuộc vào bản chất thực phẩm (cây, con), điều kiện môi trường tự nhiên, môi trường sản xuất cũng như việc các cơ sở có áp dụng các biện pháp kiểm soát phù hợp hay không.

“Ví dụ như đối với sản phẩm tôm đông lạnh, ngay từ khâu nuôi trồng đã có thể xuất hiện nhiều mối nguy như dư lượng kháng sinh, hóa chất hoặc các chất cấm sử dụng trong quá trình nuôi. Đến công đoạn chế biến, sản phẩm có thể tiếp tục đối mặt với nguy cơ nhiễm vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng từ nguồn nước, bao bì hoặc các yếu tố khác trong quá trình sản xuất. Nếu những mối nguy này không được kiểm soát ngay từ đầu, chúng sẽ trở thành nguy cơ trực tiếp đối với sức khỏe người tiêu dùng”, TS Trần Thị Dung nêu ví dụ.

Do đó, TS. Trần Thị Dung đề xuất, thay vì chỉ tập trung kiểm tra sản phẩm cuối cùng, cơ quan quản lý cần giám sát điều kiện sản xuất ngay từ đầu. Chẳng hạn, đối với các cơ sở nuôi tôm phải yêu cầu áp dụng chương trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP); còn các cơ sở chế biến phải triển khai hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) cùng các chương trình quản lý chất lượng phù hợp.

Khi các hệ thống này được thực hiện nghiêm túc, nguy cơ thực phẩm gây hại cho người tiêu dùng sẽ được giảm xuống mức thấp nhất hoặc được loại bỏ ngay trong quá trình sản xuất. Lúc đó, hoạt động lấy mẫu kiểm nghiệm trên thị trường chỉ còn đóng vai trò thẩm tra để đánh giá xem doanh nghiệp có thực sự duy trì hệ thống quản lý chất lượng có hiệu quả hay không. Nếu phát hiện vi phạm, cơ quan quản lý sẽ quay trở lại kiểm tra toàn bộ điều kiện sản xuất và hệ thống kiểm soát chất lượng của cơ sở để xác định nguyên nhân.

Theo TS. Trần Thị Dung, quản lý theo chuỗi và dựa trên phân tích nguy cơ phải trở thành nền tảng của hệ thống quản lý an toàn thực phẩm quốc gia. Đây là điểm khác biệt căn bản so với phương thức hiện nay vốn còn nặng về thủ tục đăng ký công bố sản phẩm, trong khi việc kiểm soát điều kiện sản xuất và việc áp dụng các chương trình quản lý chất lượng tại cơ sở chưa được coi trọng đúng mức.

Làm thế nào để mô hình quản lý mới về an toàn thực phẩm đạt hiệu quả trong thực tế?

TS. Trần Thị Dung cho rằng việc quản lý nguy cơ trên toàn bộ chuỗi cung ứng là một bước đột phá trong tư duy xây dựng chính sách. Tuy nhiên, theo bà, để mô hình quản lý mới vận hành hiệu quả, trước hết cần xây dựng đầy đủ hệ thống quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với từng loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Các quy định này phải bao quát toàn bộ chuỗi cung ứng, từ sản xuất, nguyên liệu ban đầu, thu mua, sơ chế, chợ bán buôn nguyên liệu, chế biến, vận chuyển, bảo quản, lưu trữ, bán buôn, bán lẻ, chợ dân sinh, siêu thị, nhà hàng, bếp ăn tập thể đến các hệ thống logistics.

"Mỗi loại hình cơ sở đều phải có quy định thống nhất về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và phải được yêu cầu áp dụng chương trình quản lý chất lượng phù hợp với hoạt động của mình", TS. Trần Thị Dung nhấn mạnh.

Theo TS Trần Thị Dung, để đáp ứng các yêu cầu mới, doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm sẽ phải đầu tư nâng cấp nhà xưởng, trang thiết bị, quy trình sản xuất cũng như nguồn nhân lực nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm. Bên cạnh nguồn lực tài chính, các cơ sở cũng cần được trang bị kiến thức để có thể triển khai và duy trì hiệu quả các chương trình quản lý chất lượng tiên tiến.

Tuy nhiên, trách nhiệm không chỉ đặt lên vai doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hay người nông dân. TS. Trần Thị Dung cho rằng, cơ quan quản lý nhà nước cũng sẽ phải thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ, từ xây dựng đầy đủ hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật đến đào tạo đội ngũ chuyên gia có đủ năng lực hướng dẫn doanh nghiệp áp dụng các chương trình quản lý chất lượng.

Cùng với đó là xây dựng lực lượng kiểm tra viên đủ về số lượng và chuyên môn để thường xuyên kiểm tra điều kiện sản xuất tại cơ sở, đồng thời lấy mẫu ngẫu nhiên trên thị trường thử nghiệm nhằm đánh giá thực phẩm được sản xuất, nhập khẩu ra thị trường có an toàn hay không để làm cơ sở đánh giá việc tuân thủ của doanh nghiệp.

Có nên giao cho một bộ ngành làm đầu mối quản lý về an toàn thực phẩm?

Một vấn đề cũng được TS. Trần Thị Dung đặc biệt quan tâm là mô hình tổ chức quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.

Dự thảo Luật An toàn thực phẩm đưa ra nguyên tắc chung: Bộ Y tế là cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; các bộ, ngành và chính quyền địa phương phối hợp thực hiện.

Tuy nhiên, theo quan điểm của TS. Trần Thị Dung, việc giao toàn bộ trách nhiệm cho một bộ, ngành chưa hẳn là phương án tối ưu.

“Quản lý an toàn thực phẩm liên quan đến toàn bộ quá trình từ sản xuất ban đầu, nuôi trồng, khai thác, chế biến, bảo quản, lưu thông đến xuất nhập khẩu thực phẩm. Mỗi lĩnh vực lại đòi hỏi kiến thức chuyên môn khác nhau để có thể nhận diện đúng các mối nguy, đánh giá nguy cơ và xây dựng biện pháp kiểm soát phù hợp. Đối với nông sản, cần những người am hiểu quy trình trồng trọt, chăn nuôi và khai thác. Với thủy sản hay lâm sản cũng cần đội ngũ chuyên gia có kiến thức chuyên ngành tương ứng. Trong khi đó, lĩnh vực chế biến thực phẩm lại liên quan đến công nghệ sản xuất, nguyên liệu đầu vào và các hệ thống quản lý chất lượng. Chỉ quản lý về sức khỏe và các mối nguy thôi thì khó có thể thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quản lý an toàn thực phẩm trên toàn bộ chuỗi", TS. Trần Thị Dung nhận định.

Từ thực tiễn đó, TS Trần Thị Dung cho rằng Việt Nam cần hướng tới một tổ chức quản lý an toàn thực phẩm độc lập ở cấp quốc gia, quy tụ đội ngũ chuyên gia của nhiều lĩnh vực như y tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và các ngành liên quan. Chỉ khi tập hợp được nguồn lực chuyên môn đa ngành mới có thể triển khai hiệu quả phương thức quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi cung ứng.

Theo TS. Trần Thị Dung, sau khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được Quốc hội thông qua, việc cần ưu tiên trước hết là nhanh chóng xây dựng đầy đủ các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.

Các quy định mới phải rõ ràng, cụ thể để cán bộ thực thi, doanh nghiệp và người dân đều có thể hiểu và thực hiện thống nhất. Điều này cũng góp phần hạn chế tình trạng quy định thiếu minh bạch, tạo ra khoảng trống cho tiêu cực, tham nhũng hoặc gây khó khăn không cần thiết cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện.

Song song với đó là nâng cấp hệ thống quản lý, tăng cường kiểm soát điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh và duy trì hoạt động giám sát bằng lấy mẫu ngẫu nhiên trên thị trường để đánh giá mức độ tuân thủ.

Theo TS. Trần Thị Dung, chỉ khi các quy định pháp luật được hoàn thiện, hệ thống quản lý được tổ chức đồng bộ và việc kiểm soát nguy cơ được thực hiện ngay từ từng khâu của chuỗi cung ứng thì mới có thể hình thành một cơ chế phòng ngừa hiệu quả, thay vì chỉ xử lý khi sự cố đã xảy ra.

Đó cũng chính là mục tiêu mà dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) hướng tới: chuyển từ tư duy "ứng phó" sang "phòng ngừa", từ kiểm soát sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất, qua đó tạo nền tảng để bảo đảm an toàn thực phẩm bền vững và củng cố niềm tin của người dân đối với mỗi bữa ăn hằng ngày.