Sáng 5/8, thảo luận tại tổ về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội nêu ý kiến rất phong phú, không chỉ góp ý về dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) mà còn hiến kế để công tác hòa giải tại cộng đồng đạt hiệu quả cao. Trong đó, nhiều ý kiến tập trung góp ý vào những vấn đề liên quan đến kinh phí hoạt động, tiêu chuẩn hòa giải viên và chuyển đổi số trong công tác hòa giải.

Qua hơn 10 năm thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là hoàn thiện các quy định pháp luật mà còn phải tạo điều kiện để hoạt động hòa giải thực sự đi vào đời sống, phát huy vai trò tự quản của cộng đồng, giải quyết mâu thuẫn từ sớm, từ cơ sở. Khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai, hòa giải ở cơ sở càng cần được trao đủ nguồn lực, con người và công cụ số để giải quyết mâu thuẫn từ cộng đồng, hạn chế tranh chấp kéo dài.

Theo Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (ĐBQH TP Hà Nội), việc sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở có ý nghĩa quan trọng trong việc thể chế hóa các chủ trương về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, phát huy dân chủ ở cơ sở và khắc phục những hạn chế phát sinh sau hơn 10 năm thực hiện Luật hiện hành.

Một trong những vấn đề được đại biểu đặc biệt quan tâm là kinh phí. Hòa giải ở cơ sở lâu nay được thực hiện chủ yếu dựa vào đội ngũ những người có uy tín, am hiểu địa bàn và tinh thần trách nhiệm với cộng đồng. Tuy nhiên, khi yêu cầu đối với công tác này ngày càng cao, việc bảo đảm nguồn lực tài chính ổn định trở thành điều kiện quan trọng để các tổ hòa giải hoạt động thực chất, hiệu quả và bền vững.

Theo Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm để đảm bảo chất lượng công tác hòa giải ở cơ sở trong tình hình mới, hóa giải những mâu thuẫn từ sớm, Nhà nước cần bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở, thay vì chỉ hỗ trợ như quy định hiện hành. Đồng thời, cần duy trì cơ chế ngân sách Trung ương hỗ trợ những địa phương chưa tự cân đối được ngân sách và khuyến khích huy động các nguồn lực hợp pháp từ xã hội.

Nhất trí cao với ý kiến của Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, đại biểu Vũ Văn Tiến (ĐBQH TP Hải Phòng) cho rằng việc huy động nguồn lực xã hội hợp pháp cho công tác hòa giải ở cơ sở là giải pháp cần thiết để đa dạng hóa nguồn kinh phí. Tuy nhiên, dự thảo cần quy định rõ cơ chế quản lý, giám sát để việc sử dụng nguồn lực xã hội hóa bảo đảm công khai, minh bạch và hiệu quả.

Đại biểu chuyên trách Nguyễn Ngọc Việt (ĐBQH TP Hà Nội) cũng đặc biệt lưu ý đến vấn đề này. Theo ông, việc phân bổ ngân sách cần căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể của từng xã, phường. Đối với hòa giải viên, việc hỗ trợ theo từng vụ việc cần được quy định cụ thể hơn, phù hợp với khối lượng công việc thực tế. Bởi nếu không có nguồn kinh phí phù hợp, rất khó thu hút những người có trình độ, hiểu biết pháp luật như luật sư hoặc những người có chuyên môn tham gia công tác hòa giải ở cơ sở.

Đại biểu Nguyễn Hoàng Trường (ĐBQH TP Hà Nội) đề nghị Chính phủ quy định khung mức chi tối thiểu theo từng vụ việc và mức hỗ trợ hoạt động hằng tháng đối với tổ hòa giải; đồng thời cho phép HĐND cấp tỉnh căn cứ điều kiện ngân sách địa phương để quy định mức hỗ trợ phù hợp.

Nếu nguồn lực tài chính là điều kiện cần thì con người là yếu tố quyết định chất lượng của hoạt động hòa giải. Do vậy, công tác hòa giải ở cơ sở không chỉ cần người có uy tín, mà còn cần người có năng lực. Tại dự thảo Luật quy định hòa giải viên phải có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân và có hiểu biết pháp luật.

Đại biểu Lê Nhật Thành ( ĐBQH TP Hà Nội) cơ bản đồng tình với các tiêu chuẩn này, song cho rằng đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cần có những yêu cầu phù hợp hơn với đặc thù địa bàn. Theo đó, khi bầu hoặc chỉ định hòa giải viên cần quan tâm đến cơ cấu người dân tộc thiểu số, người có uy tín trong cộng đồng, già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, người am hiểu phong tục, tập quán tốt đẹp và người biết tiếng dân tộc thiểu số. Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tế. Bởi nhiều mâu thuẫn tại cộng đồng không chỉ đơn thuần là tranh chấp về quyền lợi mà còn gắn với quan hệ gia đình, dòng họ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng và những quy ước đã hình thành trong đời sống cộng đồng. Trong những trường hợp đó, một người vừa hiểu pháp luật, vừa hiểu văn hóa và có uy tín trong cộng đồng sẽ có lợi thế lớn trong việc thuyết phục các bên tìm được tiếng nói chung.

Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm cũng đề nghị mở rộng thành phần người được mời tham gia hòa giải, bao gồm già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong cộng đồng, luật sư, luật gia và những người có chuyên môn phù hợp. Theo đại biểu, đây là nguồn lực xã hội quan trọng, nhất là đối với những vụ việc phức tạp hoặc liên quan đến phong tục, tập quán, tín ngưỡng. Để thu hút đội ngũ có trình độ chuyên môn, nhất là luật sư, luật gia tham gia hỗ trợ hoạt động hòa giải, cần nghiên cứu cơ chế thù lao tương xứng, cả trong trường hợp tư vấn, hỗ trợ hòa giải viên và trực tiếp tham gia hòa giải.

Một vấn đề khác được các đại biểu đặt ra là làm thế nào để phát huy tính tự quản của cộng đồng trong hoạt động hòa giải. Đại biểu Nguyễn Ngọc Việt (DDoBQH TP Hà Nội) cho rằng, trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cần phát huy hơn nữa vai trò của những lực lượng hiểu rõ địa bàn như Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban công tác Mặt trận, các hội đoàn thể và lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở. Bởi, đây là những người nắm rõ tình hình dân cư, quan hệ cộng đồng và những vấn đề có thể phát sinh tại địa bàn. Vì vậy, cần giao nhiều quyền chủ động hơn cho khu dân cư.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Việt đề xuất Trưởng Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư thực hiện vai trò giám sát, giới thiệu thành viên tham gia tổ hòa giải; Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố đảm nhiệm vai trò Tổ trưởng tổ hòa giải. Cách tiếp cận này đặt hoạt động hòa giải gần hơn với đời sống thực tế, đồng thời phát huy tinh thần tự quản, tự chịu trách nhiệm của cộng đồng.

Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Ngọc Việt cũng lưu ý một số quy trình trong dự thảo vẫn còn mang tính hình thức, chẳng hạn việc bầu đại diện hộ gia đình, nhất là tại các khu chung cư, nơi chủ hộ nhiều khi không tham dự các cuộc họp. Do đó, cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, tăng cường cơ chế tự quản và hậu kiểm để hoạt động hòa giải thực sự linh hoạt, phù hợp với từng loại hình cộng đồng dân cư.

Một điểm mới đáng chú ý của dự thảo Luật là các quy định liên quan đến hòa giải trực tuyến và ứng dụng công nghệ trong hoạt động hòa giải. Đại biểu Lê Thị Nga (ĐBQH tỉnh Ninh Bình) đề nghị tiếp tục rà soát các quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hòa giải ở cơ sở, bảo đảm phù hợp với tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Tuy nhiên, để hòa giải trực tuyến không chỉ dừng lại ở một quy định trên giấy, vấn đề đặt ra là hạ tầng và năng lực số của người thực hiện. Do vậy, đại biểu Lê Thị Nga đề nghị quan tâm đầu tư hạ tầng số, trang thiết bị và đào tạo kỹ năng số cho hòa giải viên, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đại biểu Lê Nhật Thành cũng đề nghị quan tâm đến điều kiện thực hiện tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có kinh phí tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, tài liệu pháp luật dễ hiểu, phù hợp với ngôn ngữ và văn hóa địa phương; hỗ trợ người phiên dịch và hỗ trợ hòa giải viên khi tham gia những vụ việc phức tạp hoặc tại địa bàn rộng, đi lại khó khăn.

Dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ góp phần xây dựng môi trường xã hội lành mạnh hơn, giảm mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và giải quyết kịp thời các vụ việc ngay từ cơ sở, qua đó tiết kiệm chi phí cho xã hội. Bên cạnh đó, khi công tác hòa giải hiệu quả còn góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp như tình làng, nghĩa xóm, quy ước, hương ước trong cộng đồng dân cư.

Từ việc bảo đảm kinh phí, xây dựng đội ngũ hòa giải viên có năng lực, phát huy người có uy tín trong cộng đồng đến đầu tư hạ tầng số và tăng tính tự quản ở khu dân cư, các ý kiến tại phiên thảo luận đều hướng tới một mục tiêu: để hòa giải không chỉ là một thiết chế pháp lý, mà thực sự trở thành điểm tựa của cộng đồng trong phòng ngừa, giải quyết mâu thuẫn và giữ gìn sự đồng thuận xã hội ngay từ cơ sở.