Theo bà Từ Thị Tuyết Nhung - Ủy viên thường vụ Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, thực phẩm hữu cơ bắt đầu được đầu tư nuôi trồng và bán ra thị trường ở nước ta từ năm 2008. Khi đó, có rất ít người biết về loại thực phẩm này, chủ yếu là những người mắc bệnh hiểm nghèo như ung thư sử dụng. Dần dần, thông qua truyền thông, mọi người bắt đầu biết đến thực phẩm này nhiều hơn. Thực phẩm hữu cơ cũng phát triển đa dạng hơn, không chỉ rau, mà còn có thịt, cá, trứng, sữa… và các thực phẩm chế biến khác.
Thực phẩm hữu cơ đang dần hình thành một thị trường riêng. Chính phủ đã có Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030. Mục tiêu đến năm 2030, diện tích đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 2,5-3% tổng diện tích đất nông nghiệp. Điều đáng chú ý là chính sách không chỉ hướng đến xuất khẩu mà xác định rõ phát triển sản phẩm hữu cơ để phục vụ cả tiêu dùng trong nước.
Thế nhưng, thị trường mở rộng chưa đồng nghĩa với việc thực phẩm hữu cơ trở thành lựa chọn phổ biến trong nhiều gia đình. Lý do đầu tiên, đó là về giá cả. Tại một cửa hàng kinh doanh thực phẩm sạch trên phố Láng Hạ, Hà Nội, một mớ rau muống hữu cơ có giá 30.000đ, một mớ rau dền có giá 25.000đ, tương tự, mồng tơi, rau cải… đều có giá 25.000đ/mớ, riêng bắp cải là 70.000đ/cây, thịt lợn từ 200.000đ-300.000đ/kg, thịt bò từ 400.000đ/kg trở lên. Các mức giá này cao hơn gấp đôi, thậm chí có sản phẩm đắt gấp 3 lần so với thực phẩm thông thường. Với những gia đình có thu nhập cao, họ sẵn sàng trả thêm tiền để được sử dụng thực phẩm tốt cho sức khỏe. Song, với những người có thu nhập trung bình thì còn khá e dè.
“Bản thân cũng rất muốn dùng nhưng thực sự gia đình không đủ khả năng để dùng thường xuyên. Tôi nghĩ phải là gia đình có điều kiện mới sử dụng thực phẩm hữu cơ được vì đó là công lao người nông dân làm ra sản phẩm sạch thì đương nhiên phải đắt rồi. Ví dụ mình mua mớ rau muống bình thường 10.000đ/mớ thì hữu cơ giá phải gấp đôi” – một người dân ở phường Cửa Nam, Hà Nội cho biết.
Nếu những thực phẩm thông thường, người tiêu dùng có thể dễ dàng mua ở chợ, bất cứ nơi nào có bán rau thì để tìm thực phẩm hữu cơ, người mua thường phải đến những cửa hàng chuyên biệt, siêu thị hoặc đặt hàng qua các kênh phân phối riêng.
Và, không chỉ là câu chuyện giá cả, khoảng cách, việc khó phân biệt giữa thực phẩm sạch thông thường và thực phẩm được nuôi trồng theo phương pháp hữu cơ thực sự mới là lý do chính khiến nhiều người còn băn khoăn khi mua và sử dụng. Nhìn nhận vấn đề này, bà Từ Thị Tuyết Nhung cho rằng, những năm gần đây, việc quản lý mã truy xuất nguồn gốc thực phẩm hữu cơ còn nhiều “bỏ ngỏ”.
“Vì để sản xuất ra thực phẩm hữu cơ, người nông dân không được phun thuốc trừ cỏ, không được sử dụng hóa chất. Thay vào đó, họ phải làm việc khó hơn là nhổ cỏ bằng tay, tự ủ phân, tự chế dinh dưỡng mà không được phép mua ngoài cửa hàng. Trong khi đó, năng suất lại không cao nên giá cho mỗi thực phẩm hữu cơ bị đội lên. Người tiêu dùng phải chi trả cho các khoản đó nên đương nhiên là giá thành phải cao lên. Cũng chính vì giá cao lại hấp dẫn những người muốn làm hàng giả tuồn ra thị trường. Chúng tôi đã phải đối mặt với điều này ngay từ khi thực phẩm hữu cơ mới xuất hiện trên thị trường.
Với hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng kỹ thuật số thì chúng tôi đã quản lý nó ngay từ năm 2016. Sau này, khi thị trường phát triển, những nông sản đươc sản xuất hữu cơ được cấp chứng nhận PGS thông qua Hệ thống đảm bảo cùng tham gia (viết tắt là PGS). Nhưng câu chuyện là cách quản lý của chúng ta vẫn còn bỏ ngỏ trên thị trường, nhiều sản phẩm chưa đạt chuẩn vẫn được gọi là hữu cơ khiến người tiêu dùng hoang mang, không biết lựa chọn thế nào là đúng. Vì vậy, người dân e dè khi mua thực phẩm hữu cơ cũng là lý do chính đáng”.
Để mua đúng thực phẩm hữu cơ, bà Từ Thị Tuyết Nhung khuyên người tiêu dùng nhìn vào tem nhãn của sản phẩm. Thực phẩm hữu cơ đạt chuẩn TCVN (Tiêu chuẩn Việt Nam) được ghi nhãn đúng quy định V-CO Việt Nam (Certificate Organic Việt Nam. Trên nhãn có đầy đủ thông tin của đơn vị đánh giá là Bộ Nông nghiệp và môi trường. Kèm theo đó là số hiệu giấy chứng nhận của người sản xuất.
