Trong kỷ nguyên công nghệ số và hội nhập, các sản phẩm văn hóa Việt Nam như âm nhạc, phim ảnh, trò chơi điện tử, xuất bản điện tử… có thêm cơ hội tiếp cận công chúng rộng lớn, thậm chí vươn ra thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, môi trường số cũng đặt ra không ít thách thức đối với người sáng tạo. Một tác phẩm có thể mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm để hình thành, nhưng chỉ trong vài giây đã bị sao chép, đăng lại, cắt ghép hoặc phát tán trên mạng.
Theo Thạc sĩ Bùi Minh Tuấn, Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ Dipnet, Trưởng ban Đào tạo Hiệp hội Công nghiệp văn hóa Việt Nam, vi phạm sở hữu trí tuệ trên không gian mạng không phải vấn đề mới. Điều thay đổi là quy mô, tốc độ phát tán và phương thức vi phạm ngày càng phức tạp.
Thạc sĩ Bùi Minh Tuấn cho rằng, những lỗ hổng trong bảo vệ bản quyền số hiện nay đến từ ba khía cạnh: thể chế, công nghệ và nhận thức của những người tham gia sáng tạo, sản xuất, phân phối cũng như sử dụng nội dung.
Vi phạm bản quyền: Tổn thất không chỉ nằm ở doanh thu
Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có tỷ lệ vi phạm bản quyền cao trên thế giới. Khoảng 80% hành vi vi phạm diễn ra trên các nền tảng số, dưới nhiều hình thức như chiếm đoạt, mạo danh, phân phối không xin phép, xuất bản trái phép, cắt xén hoặc tạo sản phẩm phái sinh. Hiện có hàng trăm website phát hành phim lậu, thu lợi bất chính. Đáng chú ý, khi một trang bị xử lý, các trang khác có thể nhanh chóng xuất hiện với tên miền mới, khiến công tác ngăn chặn gặp nhiều khó khăn.
Theo phân tích của các chuyên gia và các nghệ sĩ, vi phạm bản quyền gây ra nhiều hệ lụy đối với cá nhân, doanh nghiệp và cả nền kinh tế.
Đạo diễn Bùi Trung Hải chia sẻ, nhiều tác phẩm điện ảnh của ông như “Khi nắng thu về” hay “Hà Nội 12 ngày đêm” bị đưa lên YouTube trái phép. Tuy nhiên, việc xác định chủ sở hữu các kênh đăng tải và tìm giải pháp xử lý không hề dễ dàng.
Trong khi đó, đạo diễn, nhà sản xuất phim Lương Đình Dũng cho biết, dù các tác phẩm đã được đăng ký bản quyền, một số bộ phim của ông sau khi phát hành trên Netflix vẫn bị xâm phạm tại nước ngoài. Việc lên tiếng phản đối nhiều khi chưa đem lại hiệu quả như mong muốn.
Bên cạnh đó, vi phạm bản quyền còn tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp làm ăn chân chính với những đối tượng khai thác nội dung trái phép. Đặc biệt, với các tác phẩm điện ảnh, tình trạng phim vừa ra rạp một vài ngày đã xuất hiện bản sao trên mạng gây thiệt hại trực tiếp cho nhà sản xuất.
Nghệ sĩ Mai Thu Huyền, đạo diễn, nhà sản xuất, Tổng Giám đốc Công ty Tincom Media cho rằng, việc phát tán phim chưa được phép là hành vi rất đáng lo ngại, cần được nhìn nhận như một hình thức đánh cắp tài sản trí tuệ.
AI đặt ra những câu hỏi mới về bản quyền
Bên cạnh internet và các nền tảng số, sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) cũng đang tạo ra những thách thức mới đối với quyền tác giả. AI có thể hỗ trợ con người trong quá trình sáng tạo, từ viết nội dung, tạo hình ảnh đến sản xuất âm thanh, video. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là mức độ đóng góp của AI đến đâu thì sản phẩm được xem là tác phẩm sáng tạo của con người và được bảo hộ bản quyền.
Pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành đã ghi nhận AI như một công cụ hỗ trợ sáng tạo. Tuy nhiên, việc xác định cụ thể đóng góp của con người trong sản phẩm có sử dụng AI vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ cả về định tính và định lượng. Theo Thạc sĩ Bùi Minh Tuấn, chính sách bản quyền cần có cách tiếp cận sớm, phù hợp với sự phát triển của công nghệ, tránh tình trạng pháp luật đi sau thực tiễn quá xa.
Cần giải pháp đồng bộ từ pháp luật, công nghệ đến nhận thức
Để bảo vệ bản quyền số hiệu quả, không thể chỉ trông chờ vào một giải pháp đơn lẻ. Thạc sĩ Bùi Minh Tuấn nhận định, pháp luật, công nghệ và ý thức phải được triển khai đồng bộ. Trong đó, các tác giả cần chủ động đăng ký, định danh tác phẩm và sử dụng công cụ công nghệ để lưu giữ bằng chứng khi xảy ra tranh chấp. Việc định danh tác phẩm ngay từ đầu sẽ giúp xác định nguồn gốc, chủ sở hữu và quá trình khai thác nội dung trên không gian mạng.
Bên cạnh đó, theo Thạc sĩ Bùi Minh Tuấn, tăng chế tài là cần thiết nhưng chưa đủ. Điều quan trọng là phải tạo ra môi trường để các sản phẩm sáng tạo được lan tỏa chính thức và mang lại giá trị kinh tế cho người sở hữu.
Muốn vậy, các nền tảng số cần có cơ chế minh bạch, rõ ràng và thuận tiện để người sử dụng có thể xác định chủ sở hữu, tiếp cận nội dung hợp pháp và thực hiện nghĩa vụ bản quyền.
Đối với các nền tảng xuyên biên giới, Việt Nam cũng cần tăng cường hợp tác quốc tế, hoàn thiện các thỏa thuận song phương và đa phương, đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả hơn giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và chủ sở hữu quyền.
Cùng với hoàn thiện hành lang pháp lý và giải pháp công nghệ, nhận thức của cộng đồng vẫn được xem là yếu tố căn bản. Thạc sĩ Bùi Minh Tuấn cho rằng, khi ý thức tôn trọng bản quyền được nâng lên, người sáng tạo sẽ chủ động bảo vệ tác phẩm, còn công chúng biết cách tiếp cận và sử dụng nội dung hợp pháp. Đồng thời, các cơ quan quản lý, hiệp hội nghề nghiệp và doanh nghiệp cần đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn tác giả đăng ký, định danh tác phẩm; giúp người sử dụng hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong môi trường số.
Bảo vệ bản quyền số, vì thế, không chỉ là câu chuyện của riêng tác giả hay cơ quan quản lý. Đây là trách nhiệm chung của nhà nước, doanh nghiệp, nền tảng công nghệ, người sáng tạo và công chúng. Khi pháp luật được hoàn thiện, công nghệ được ứng dụng hiệu quả và ý thức xã hội được nâng cao, các sản phẩm văn hóa Việt Nam sẽ có thêm điều kiện để lan tỏa, được khai thác đúng giá trị và vươn xa trên thị trường quốc tế.
