Tại buổi làm việc mới đây với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL) về công tác bảo tồn, bảo tàng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một thông điệp chỉ đạo mang tính bước ngoặt: Đã đến lúc phải thay đổi căn bản tư duy quản trị, chuyển dịch mạnh mẽ từ “bảo tồn thụ động” sang “chủ động kiến tạo” nhằm khơi thông dòng chảy di sản vào nền kinh tế - xã hội.
Khi nói đến bảo tồn di sản, chúng ta thường nghĩ đến những công trình cổ được gìn giữ, những hiện vật được cất trong bảo tàng, những tư liệu được lưu trữ trong kho, với mục đích truyền lại những giá trị văn hóa lịch sử cho thế hệ sau. Nhưng trong một xã hội đang thay đổi từng ngày, khi công nghệ số làm biến đổi cách con người tiếp cận tri thức, khi kinh tế sáng tạo ngày càng trở thành động lực phát triển, một câu hỏi được đặt ra: Liệu bảo tồn chỉ là lưu giữ lại những gì đã có, hay phải làm cho nó tiếp tục sống, tiếp tục được sáng tạo và tạo ra những giá trị mới trong đời sống đương đại?
- Việt Nam hiện có hơn 40 nghìn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và gần 70 nghìn di sản văn hóa phi vật thể; trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh. Hơn 20.000 di vật, cổ vật đã được đăng ký. 177 bảo tàng đang lưu giữ và trưng bày hơn 4 triệu tài liệu, hiện vật. Gần 1.900 nghệ nhân đã được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân và Nghệ nhân ưu tú.
- Tuy nhiên, phần lớn kho tàng di sản vẫn chưa được số hóa, chuẩn hóa và kết nối thành những nguồn dữ liệu dùng chung; chưa được chuyển hóa đầy đủ thành tri thức số, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa, du lịch và các lĩnh vực mới.
- Từ thực tế đó đã đặt ra yêu cầu không chỉ là “số hóa di sản”, mà phải tiến tới “chuyển hóa di sản thành tri thức số và tài sản trí tuệ quốc gia”; từ đó tạo ra những sản phẩm, dịch vụ và giá trị mới. Đây chính là điểm giao giữa bảo tồn và phát triển.
Có thể thấy một khối lượng ký ức khổng lồ đang được trao lại cho thế hệ hôm nay. Nhưng nhiều di sản không đồng nghĩa với một hệ thống ký ức đã hoàn chỉnh. Bởi một hiện vật chỉ thực sự phát huy giá trị khi chúng ta biết nó là gì, từ đâu đến, gắn với ai, với thời kỳ nào và có ý nghĩa như thế nào đối với xã hội. Theo anh Đặng Phan Điệp, Chuyên gia bảo tồn, bảo tàng bằng công nghệ số, Tổng Giám đốc Công Ty Cổ phần LuMiNa X, đó là lý do câu chuyện số hóa ngày càng trở nên quan trọng. Trước đây, thường hiểu bảo tồn là giữ cho hiện vật không hỏng, di tích không bị xâm hại, tài liệu không bị thất lạc. Điều đó rất quan trọng, nhưng mới là điều kiện cần. Chủ động kiến tạo nghĩa là phải đi thêm một bước: Xác định chúng ta cần lưu giữ điều gì? Còn thiếu những mảnh ký ức nào? Làm thế nào để kết nối hiện vật với con người và sự kiện, rồi chuyển những dữ liệu đó thành tri thức, giáo dục và trải nghiệm cho công chúng? Tuy nhiên, kiến tạo ký ức không phải là viết lại hay làm đẹp lịch sử. Đó là chủ động tìm kiếm, xác minh, hệ thống hóa và kể lại lịch sử một cách đầy đủ, có căn cứ và có trách nhiệm.
Khi nói đến số hóa bảo tàng, nhiều người thường nghĩ đơn giản là chụp ảnh, quét 3D hiện vật hoặc đưa thông tin lên website. Nhưng dưới góc độ công nghệ, theo anh Đặng Phan Điệp, số hóa không nên bắt đầu từ việc mua thiết bị hay làm một website. Nó phải bắt đầu từ dữ liệu. Trước hết, bảo tàng phải kiểm kê: Mình đang có những gì? Hiện vật từ đâu đến? Có câu chuyện và quyền sử dụng như thế nào? Sau đó mới chuẩn hóa hồ sơ, chụp ảnh, quét 3D, số hóa tài liệu, ghi âm nhân chứng và kết nối các dữ liệu liên quan.
"Tôi thường nhìn số hóa theo bốn tầng: Chuẩn hóa và bảo quản dữ liệu; Kết nối dữ liệu thành hệ thống tri thức; Kể lại bằng hình thức phù hợp; Cuối cùng là tạo ra sản phẩm giáo dục, du lịch và công nghiệp văn hóa. Nếu chỉ quét 3D rồi lưu trong ổ cứng thì chúng ta mới tạo ra một tệp dữ liệu, chưa tạo ra giá trị" - Anh Đặng Phan Điệp chia sẻ.
Theo kinh nghiệm cá nhân, anh Đặng Phan Điệp cho rằng, có 5 yếu tố mà Bộ VHTTDL cần xây dựng những chính sách: Thứ nhất là tiêu chuẩn dữ liệu chung, để dữ liệu của các bảo tàng có thể kết nối và sử dụng lâu dài. Thứ hai là cơ chế bản quyền, quyền khai thác và chia sẻ doanh thu rõ ràng. Thứ ba là cơ chế hợp tác công – tư, vì Nhà nước nắm giữ nguồn dữ liệu lớn, còn doanh nghiệp có tốc độ triển khai, công nghệ và khả năng phát triển sản phẩm. Cuối cùng là đầu tư cho con người. Nếu chỉ mua thiết bị mà không có đội ngũ quản trị dữ liệu, nghiên cứu nội dung và vận hành sản phẩm thì sau vài năm công nghệ sẽ lỗi thời, còn dữ liệu cũng không được cập nhật.
Quan trọng cần xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia nhưng không nên hiểu đó chỉ là một máy chủ khổng lồ để tất cả đơn vị đưa dữ liệu lên. Nó phải là một hạ tầng dữ liệu có tiêu chuẩn, có phân quyền, có khả năng tìm kiếm, kết nối và truy xuất nguồn gốc. Mỗi bảo tàng vẫn quản lý dữ liệu chuyên môn của mình, nhưng các hệ thống có thể nói chuyện với nhau. Kho dữ liệu cũng cần nhiều cấp độ tiếp cận: Dữ liệu công khai cho cộng đồng; Dữ liệu chuyên sâu cho nghiên cứu; Dữ liệu hạn chế vì bản quyền, an ninh hoặc bảo tồn. Nếu không có kiến trúc và tiêu chuẩn ngay từ đầu, chúng ta rất dễ đầu tư nhiều dự án số hóa nhưng cuối cùng dữ liệu không thể ghép lại thành một bức tranh chung.
Anh Đặng Phan Điệp cho rằng: "Ký ức quốc gia không chỉ do các bảo tàng tạo nên mà được đóng góp bởi từng gia đình, từng cộng đồng, từng nhà nghiên cứu và từng người đang lưu giữ một câu chuyện của quá khứ. Mỗi người có thể đóng góp bằng việc giữ gìn tư liệu gia đình, ghi lại ký ức của người thân, cung cấp thông tin cho bảo tàng, tôn trọng di tích và chia sẻ những nội dung lịch sử có nguồn gốc rõ ràng. Còn trách nhiệm của Nhà nước và các thiết chế văn hóa là tạo ra hệ thống để những đóng góp ấy được tiếp nhận, xác minh và lưu giữ lâu dài".
Chủ động kiến tạo ký ức quốc gia, suy cho cùng là để các thế hệ sau không chỉ biết chúng ta đã đi qua những gì, mà còn hiểu vì sao chúng ta trở thành dân tộc Việt Nam hôm nay.
