Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876 trong một gia đình nho học ở làng Thạnh Bình, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng. Ngay từ khi còn nhỏ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm 1904, cụ đỗ đầu kỳ thi Hội, tuy nhiên, trước cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, cụ đã không lựa chọn con đường làm quan. Theo PGS.TS Nguyễn Quốc Bảo, nguyên Trưởng khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đây là một quyết định thể hiện rõ khí tiết và tư tưởng vì nước, vì dân của một nhà nho cấp tiến.

Năm 1904, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp thực hiện chuyến Nam du, từ Quảng Nam vào Bình Thuận, qua đó góp phần truyền bá tư tưởng Duy Tân. Cụ Huỳnh Thúc Kháng còn tham gia mở thương điếm ở Hội An. Những hoạt động này góp phần đưa tư tưởng Duy Tân từ nhận thức của một bộ phận sĩ phu trở thành những hoạt động cụ thể trong đời sống xã hội. Khi phong trào chống thuế năm 1908 bùng nổ, cụ bị thực dân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo.

"Suốt 13 năm trong lao tù, từ năm 1908 đến năm 1921, ý chí của người chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng vẫn không bị khuất phục, trước sau đều thể hiện là một người yêu nước nhiệt thành, một chí sĩ kiên cường bất khuất. Và dù trong mọi khó khăn vẫn luôn ngời sáng bản lĩnh trước thời cuộc", PGS.TS Sử học Trương Công Huỳnh Kỳ chia sẻ.

Năm 1921, được trả tự do, cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục con đường hoạt động xã hội. Năm 1926, cụ ứng cử và trúng cử với số phiếu cao, được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ khóa I. Một dấu ấn đặc biệt trong sự nghiệp của cụ là sự ra đời của báo Tiếng Dân năm 1927. Đây là tờ báo tiếng Việt đầu tiên của xứ Trung Kỳ lúc bấy giờ, do cụ Huỳnh Thúc Kháng sáng lập và làm chủ nhiệm.

PGS.TS Nguyễn Quốc Bảo cho rằng, tờ báo Tiếng Dân đã trở thành một diễn đàn rộng lớn phản ánh nguyện vọng của nhân dân, lên tiếng bảo vệ quyền lợi của người dân. Đây là một tờ báo có ảnh hưởng lớn nhất Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám. Tờ báo đã kiên trì truyền bá tư tưởng yêu nước, góp phần giáo dục quần chúng đấu tranh, công khai tố cáo chính sách thống trị của chính phủ Pháp, góp phần vạch mặt bọn Việt gian, đòi hỏi dân chủ, dân sinh, cổ vũ khai dân trí, chấn dân khí và bảo vệ bản sắc dân tộc.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công mở ra một bước ngoặt mới trong cuộc đời hoạt động của cụ Huỳnh Thúc Kháng, khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia Chính phủ Liên hiệp lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đây là sự ghi nhận đối với một trí thức yêu nước có uy tín, có bản lĩnh và có nhiều năm hoạt động vì dân, vì nước.

Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, cụ Huỳnh Thúc Kháng được giao Quyền Chủ tịch nước, đồng thời đảm nhận vai trò Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, góp phần tập hợp, củng cố khối đại đoàn kết trong những năm đầu của chính quyền cách mạng còn non trẻ.

Điểm đáng chú ý trong sự nghiệp của cụ Huỳnh Thúc Kháng là quá trình chuyển biến từ một nhà nho yêu nước, một trí thức theo khuynh hướng dân chủ tư sản đến việc tham gia xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng thân dân, vì dân của cụ là một trong những điểm tương đồng quan trọng khiến Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng và mời cụ tham gia chính quyền cách mạng.

"Dù trải qua nhiều biến động lịch sử từ thời phong kiến, thời thuộc địa cho đến khi đất nước Việt Nam giành được độc lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn luôn giữ vững một nhân cách lớn, một lòng yêu nước son sắt, luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích của cá nhân. Tên tuổi, phẩm chất, tài năng của cụ đã có ảnh hưởng sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là đội ngũ trí thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng và sau này giao cụ nhiều trọng trách không chỉ ở tài năng của cụ mà ở cụ còn là biểu tượng của sự đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc", PGS.TS Nguyễn Quốc Bảo khẳng định.

Nhìn lại cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng, có thể thấy những đóng góp của cụ đối với cách mạng Việt Nam là cả một quá trình liên tục. Điều còn lại sâu sắc nhất từ cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng chính là một nhân cách lớn: không cầu danh vị, không màng lợi lộc, luôn đặt lợi ích của dân tộc và nhân dân lên trên lợi ích cá nhân. Đó cũng là giá trị khiến tên tuổi Huỳnh Thúc Kháng không chỉ thuộc về một thời kỳ lịch sử, mà trở thành một tấm gương về lòng yêu nước, khí tiết và tinh thần trách nhiệm với vận mệnh quốc gia.