Sáng nay (11/9) Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL) tổ chức lấy ý kiến về Đề án “Định giá kinh tế di sản, TEV, lượng hóa giá trị kinh tế tổng thể di sản thế giới”. Cuộc họp do TS.KTS. Hoàng Đạo Cương, Thứ trưởng Bộ VHTTDL, Trưởng ban soạn thảo xây dựng Đề án, chủ trì, với sự tham dự của các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các cơ quan, đơn vị liên quan.

Ý nghĩa của việc định giá kinh tế di sản

Cục Di sản Văn hóa cho biết, Việt Nam hiện có 9 di sản thế giới được UNESCO công nhận, bao gồm các di sản văn hóa, thiên nhiên và hỗn hợp, với đặc điểm đa dạng về loại hình, quy mô, không gian quản lý và phạm vi tác động. Sau hơn 30 năm thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị, hệ thống di sản thế giới đã trở thành một nguồn lực quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội, du lịch, sinh kế cộng đồng, bảo vệ môi trường, quảng bá hình ảnh và nâng cao vị thế quốc gia.

Mặc dù có nhiều di sản thế giới, nhưng thực tế tại Việt Nam đang chưa có một khung phương pháp lượng giá TEV thống nhất ở cấp quốc gia đối với di sản. Một số nghiên cứu đã được triển khai tại từng di sản, địa phương hoặc dự án, nhưng còn khác biệt về phạm vi giá trị, phương pháp, dữ liệu và kỹ thuật ước lượng, dẫn tới khó so sánh, cập nhật và tích hợp kết quả vào quy hoạch, đầu tư công, chiến lược du lịch, đánh giá tác động và cơ chế tài chính bảo tồn.

Vì vậy, việc xây dựng một khung phương pháp thống nhất có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình chuẩn hóa chỉ tiêu, dữ liệu, quy trình khảo sát, cơ chế sử dụng kết quả lượng giá trong quản lý nhà nước, di sản và phát triển cộng đồng.

Đề án “Định giá kinh tế di sản - TEV, lượng hóa giá trị kinh tế tổng thể di sản thế giới” đang được Bộ xây dựng, lấy ý kiến sẽ tiếp cận di sản như một dạng vốn văn hóa, vốn tự nhiên và vốn xã hội, có khả năng tạo ra các giá trị kinh tế, xã hội, môi trường, sinh kế cộng đồng và sức mạnh mềm trong dài hạn.

Định hướng này được đặt trong yêu cầu phát triển kinh tế di sản và phát triển bền vững. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định: “Đầu tư bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản văn hóa lồng ghép vào mục tiêu phát triển bền vững về môi trường, văn hóa, kinh tế, xã hội gắn với sinh kế cộng đồng, hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản, góp phần hoàn thiện hệ sinh thái văn hóa” và “Tiến hành nghiên cứu và lượng giá TEV, phát triển thương hiệu điểm đến Việt Nam trên toàn cầu, biến di sản thành tài sản, hình thành mô hình “di sản dẫn dắt phát triển kinh tế” tại các khu di sản thế giới và một số đô thị di sản theo quan điểm bảo tồn di sản và phát triển bền vững của UNESCO”.

Tám đề án thành phần dự kiến được triển khai tại Hoàng thành Thăng Long; Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà; Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc; Thành nhà Hồ; Phong Nha - Kẻ Bàng; Cố đô Huế; Phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn. Việc lựa chọn các trường hợp này nhằm kiểm nghiệm khả năng áp dụng Khung TEV đối với những loại hình và cấu trúc di sản khác nhau, từ di sản văn hóa, thiên nhiên đến các hệ thống di sản có tính phức hợp cao.

Nhận diện giá trị di sản từ việc đo lường giá trị kinh tế

Theo cách tiếp cận của Đề án, di sản được nhìn nhận như một dạng vốn văn hóa, vốn tự nhiên và vốn xã hội, có khả năng tạo ra các giá trị kinh tế, xã hội, môi trường, sinh kế cộng đồng và sức mạnh mềm trong dài hạn. Vì vậy, lượng hóa Tổng giá trị kinh tế, TEV, không nhằm quy đổi toàn bộ giá trị văn hóa hay Giá trị nổi bật toàn cầu của di sản thành tiền, mà nhằm nhận diện và đo lường những lợi ích kinh tế và phúc lợi mà hệ thống tài sản di sản tạo ra cho xã hội.

Tổng giá trị kinh tế của mỗi di sản thế giới được lượng hóa gồm giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Giá trị sử dụng bao gồm: giá trị sử dụng trực tiếp từ tham quan, du lịch, dịch vụ văn hóa và sinh thái, giáo dục, nghiên cứu, sự kiện, các hoạt động định cư và sinh kế cộng đồng; giá trị sử dụng gián tiếp thông qua cảnh quan, môi trường, thương hiệu lãnh thổ, sức hấp dẫn đầu tư, giá trị bất động sản, chất lượng không gian sống và các dịch vụ hệ sinh thái; giá trị lựa chọn cho tương lai và các giá trị phi sử dụng như giá trị tồn tại, giá trị lưu truyền cho thế hệ sau, giá trị biểu tượng, bản sắc và giá trị tinh thần của cộng đồng.

Cách tiếp cận này giúp phân biệt rõ Tổng giá trị kinh tế của di sản với các doanh thu du lịch, dịch vụ văn hóa hoặc chi tiêu của khách tham quan (các chỉ số thị trường trực tiếp chỉ phản ánh một bộ phận của giá trị sử dụng, trong khi di sản còn tạo ra nhiều lợi ích phi thị trường và tác động lan tỏa đối với cộng đồng, môi trường, giáo dục, nghiên cứu, thương hiệu lãnh thổ và phát triển dài hạn).

Tổng giá trị kinh tế di sản tiếp cận bốn hệ giá trị tài sản của di sản thế giới gồm: Hệ giá trị tài sản tự nhiên; Hệ giá trị tài sản văn hóa; Hệ giá trị di sản định cư; Hệ giá trị tài sản kinh tế. Việc lượng giá được thực hiện thông qua sự kết hợp giữa các phương pháp phù hợp với từng loại hình di sản, có tính đến đặc thù của Hệ thống di sản thế giới ở VN (phương pháp chi phí du lịch, lượng giá ngẫu nhiên, thí nghiệm lựa chọn, giá trị hưởng thụ, chuyển giao lợi ích và các phương pháp phân tích bổ trợ...

Kinh nghiệm thực tiễn trong nước cũng cho thấy khả năng áp dụng khoa học định lượng từ kết quả của mô hình thực nghiệm: lượng giá Tổng giá trị kinh tế Quần thể danh thắng Tràng An năm 2025, đã lượng hóa tỷ trọng các hợp phần giá trị văn hóa, tự nhiên, hệ thống cư trú. Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị văn hóa chiếm 49,31%, giá trị tự nhiên 38,99% và hệ thống cư trú 11,71%, đồng thời cho thấy các giá trị phi thị trường và giá trị lan tỏa có vai trò đáng kể bên cạnh các giá trị tiền tệ trực tiếp từ du lịch và sinh kế.

Đại diện Cục Di sản Văn hóa cho biết, sau các cuộc họp lấy ý kiến, Cục tiếp tục rà soát, hoàn thiện Khung lượng hóa Tổng giá trị kinh tế di sản thế giới, bảo đảm tính khoa học, khả thi và phù hợp với yêu cầu quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản thế giới theo các “mô hình di sản dẫn dắt phát triển” ở Việt Nam.