Giữa thế kỷ XIX, khi đất nước đứng trước họa xâm lăng của thực dân Pháp, nhiều sĩ phu đã lựa chọn con đường dấn thân, thể hiện trách nhiệm của người trí thức trước vận mệnh non sông. Trong số đó có Hoàng giáp Phạm Văn Nghị - một nhà nho, nhà giáo, một vị quan thanh liêm và là người sớm thể hiện rõ tinh thần chủ chiến chống quân xâm lược thực dân Pháp.

Theo các tư liệu lịch sử còn lưu giữ tại Hội đồng họ Phạm cùng những tư liệu và gia phả tại đền thờ Hoàng giáp Phạm Văn Nghị ở xã Vạn Thắng, tỉnh Ninh Bình cho biết, Phạm Văn Nghị tự là Nghĩa Trai, sinh năm 1805, quê làng Tam Đăng, tổng An Trung, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Vạn Thắng, tỉnh Ninh Bình).

Xuất thân trong một gia đình thanh bạch, trọng chữ nghĩa, cha đỗ nhị trường và làm thày đồ làng, mẹ làm ruộng tần tảo nuôi cả gia đình, Phạm Văn Nghị được đi học từ khi lên 8 tuổi, đỗ Tú tài khoa Ất Dậu (1825), đỗ Cử nhân khoa Đinh Dậu (1837), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất niên hiệu Minh Mệnh 19 (1838). Sau khi đỗ Hoàng giáp, ông được bổ chức Hàn lâm viện Tu soạn, rồi lần lượt giữ các chức: quyền Tri phủ Lý Nhân, thăng Hàn lâm viện Thị độc sung Sử quán Biên tu, Đốc học Nam Định, Thương biện tỉnh vụ, thăng Hàn lâm Học sĩ, phụ trách Dinh điền sứ.

Một trong những điểm nổi bật khi lịch sử nhắc đến Hoàng giáp Phạm Văn Nghị là một sĩ phu yêu nước với tư tưởng kháng Pháp ngay từ những ngày đầu. Năm 1858, khi thực dân Pháp tấn công đánh chiếm Đà Nẵng, Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị đã dâng “trà sơn kháng sớ” thỉnh cầu vua quyết tâm chống giặc cứu nước. Đồng thời chiêu mộ thành lập đội quân gần 400 nghĩa dũng do đích thân ông dẫn đầu vào kinh đô Huế với mong muốn đánh đuổi quân xâm lược. Vua Tự Đức chủ hòa nên Hoàng giáp Phạm Văn Nghị phải dẫn quân trở ra Bắc lập phòng tuyến tại vùng núi Già (nay thuộc xã Vũ Dương, tỉnh Ninh Bình) tổ chức kháng chiến. Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn, tuy công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Phạm Văn Nghị không thành công nhưng đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần của những trí sĩ yêu nước.

Không chỉ là vị quan có lòng yêu nước sục sôi, Hoàng giáp Phạm Văn Nghị còn nổi danh thanh liêm, đức độ, nêu tấm gương sáng về sự chính trực. Khi làm quan, ông thường tự nhủ: "Trị dân quý ở chỗ chớ nhiễu dân". Ông cấm các nha lại thuộc quyền hạch sách đòi dân đút lót. Mỗi khi dân đến phủ kiện cáo điều gì, ông đều tự mình xem xét, giải quyết thấu tình đạt lý.

Khi con cả ông là Phạm Đăng Giảng đỗ Phó bảng và được bổ làm Tri huyện Vĩnh Linh, người trong nhà ngại đó là huyện nghèo và xa quê hương, riêng ông lại lấy làm mừng vì cho rằng dân nghèo quan mới dễ liêm. Ông khuyên răn con ba điều mà cả cuộc đời ông đã thực hiện triệt để, coi như là những điều cốt yếu trong đạo làm quan, mà gốc giữ được là "tâm": Thanh liêm, chăm chỉ, thận trọng.

Câu chuyện từ chức quan của ông được người đời sau nhắc nhiều, đó là từ năm 1838 đến năm 1840, Hoàng giáp Phạm Văn Nghị làm tri phủ Lý Nhân, phải chứng kiến cảnh mưa to bão lớn khiến đê quai bị vỡ, nhà cửa ruộng đồng, cây cối ngập trong nước. Trước cảnh lương dân đói khổ, Phạm Văn Nghị dâng tấu tự nhận trách nhiệm và xin từ chức. Nhà vua xét thấy do mưa quá to, bão quá lớn, đê không thể chịu nổi mà vỡ, chứ không phải lỗi tại quan tri phủ thiếu chăm sóc đôn đốc, nên cho miễn tội và rút ông về làm quan biên tu trong quốc sử quán. Tuy vậy lòng vẫn băn khoăn day dứt về trách nhiệm của mình và mặc cảm tội lỗi với dân, Hoàng giáp Phạm Văn Nghị quyết từ quan về mở trường dạy học, góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước.

Là một nhà giáo, lúc nào ông cũng canh cánh bên lòng, là báo ơn nước chỉ còn việc dạy học, đào tạo nhân tài cho đất nước. Cũng dễ hiểu khi cả năm người con của ông đều đỗ đạt cao. Trong bài văn viếng Phạm Văn Nghị của Phạm Thận Duật ghi rằng: “Khi ông về quê mở trường Tam Đăng, trong 12 năm, từ Thanh Nghệ trở ra, người bốn phương cắp sách tới học hàng ngàn".

Thế kỉ 19 nước ta có ba người đạt danh hiệu Tam nguyên thì trường Tam Đăng của Phạm Văn Nghị đã chiếm hai người. Có thể coi trường Tam Đăng là một trung tâm giáo dục tốt nhất Bắc Kỳ thời đó. Ngay cả khi đã ngoài 60 tuổi, lại rất bận với việc võ bị phòng giữ duyên hải, ông vẫn tranh thủ kết hợp mở trường dạy học ở Hoành Nha (nay thuộc xã Giao Thuỷ, tỉnh Ninh Bình). Trường Hoành Nha là một loại trường khá đặc biệt trong lịch sử giáo dục nước ta, vừa dạy văn, vừa luyện võ.

Trong số học trò của ông có nhiều người đỗ đạt cao, trở thành những nhân sĩ yêu nước, làm nên sự nghiệp nổi tiếng như: Tam nguyên Trần Bích San, Tam nguyên Nguyễn Khuyến, Hoàng giáp Đỗ Huy Liêu, Phó bảng Đặng Ngọc Cầu, Phó bảng Lã Xuân Oai, Tiến sĩ Tống Duy Tân, Thủ khoa Nguyễn Cao, Đại thần Cơ mật viện Phạm Thận Duật... Nhiều học trò của ông trở thành những lãnh tụ khởi nghĩa chống Pháp mà chí khí và sự nghiệp của họ còn lẫy lừng trong lịch sử như Đinh Công Tráng.

Ngày 12 tháng 12 năm 1884, Hoàng giáp Phạm Văn Nghị qua đời tại quê nhà do tuổi cao sức yếu. Sau khi ông mất, triều đình nhà Nguyễn đã truy phục nguyên chức cho ông.

Không chỉ để lại những tư tưởng về đạo làm quan, Hoàng giáp Phạm Văn Nghị còn để lại khối lượng tác phẩm hiện còn được lưu giữ khá nhiều với gần 600 bài gồm nhiều thể loại, riêng thơ khoảng 250 bài, được tập hợp trong “Tùng Viên văn tập”. Thơ văn yêu nước của ông thể hiện sâu sắc tấm lòng trung hiếu sắt son và tình yêu thiết tha với nước, với dân, lòng căm thù giặc, quyết không dung tha quân xâm lược. Ông được coi là một nhà thơ yêu nước tiêu biểu cuối thế kỉ 19 và là một tác gia có vị trí xứng đáng trong nền văn học Việt Nam.

Hoàng giáp Phạm Văn Nghị là một vị quan hết lòng thương yêu và chăm lo cho dân, được dân yêu mến và kính phục. Là một nhà giáo, ông đã suốt đời tâm huyết với nghề, đào tạo được nhiều người tài đức cho đất nước. Ngày nay, tên của ông đã được đặt cho một ngôi trường, Trường THPT Phạm Văn Nghị nằm ở xã Yên Cường, tỉnh Ninh Bình. Truyền thống hiếu học của ông được thầy và trò trường Phạm Văn Nghị luôn tiếp nối.