Xuất thân trong một gia đình khoa bảng danh giá, cha ruột của Nguyễn Thượng Hiền là cụ Nguyễn Thượng Phiên - thầy giáo của Vua Thành Thái. Năm 17 tuổi, Nguyễn Thượng Hiền đỗ Cử nhân khoa Giáp Thân năm 1884. Năm 25 tuổi, ông thi Đình và đỗ Hoàng Giáp giống như thân phụ. Dù hai cha con đều làm quan trong triều đình, song nhìn cảnh đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, đời sống nhân dân lầm than, Nguyễn Thượng Hiền đã sục sôi ý chí cách mạng, ông tiếp thu tư tưởng tiến bộ của các sĩ phu yêu nước như: Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu... Cuối năm 1907, ông bí mật bỏ quan trường để thực hiện chí lớn cứu dân cứu nước.
Trong tình hình xã hội rối ren, vận nước chao đảo, Nguyễn Thượng Hiền đã chủ động tìm kiếm, quy tụ và kết nạp những nhân sĩ vừa tài năng, vừa giàu chí khí. Ông cùng họ nuôi dưỡng ý chí canh tân và khát vọng cứu nước, sẵn sàng gánh vác trọng trách trước vận mệnh dân tộc. Chính tinh thần chủ động kết nối ấy đã góp phần tạo nên sức mạnh chung cho phong trào yêu nước đầu thế kỷ 20, trong đó có dấu ấn của Phong trào Đông Du, mở ra những hướng đi mới cho con đường đấu tranh giành độc lập.
PGS.TS Trần Viết Nghĩa, Khoa Lịch sử, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội cho biết, Đông Du là phong trào vận động học sinh Việt Nam sang Nhật Bản để học những tư tưởng tiến bộ của Nhật Bản, trong bối cảnh Nhật Bản sau cải cách đã từ một quốc gia yếu đuối ở châu Á, bị phương Tây bắt nạt trở thành một cường quốc ở châu Á, sánh ngang với nhiều nước phương Tây phát triển lúc bây giờ. "Chính mô hình thành công của Nhật Bản đã tác động đến đội ngũ trí thức cấp tiến của Việt Nam lúc bấy giờ và ông hướng về Nhật Bản học để thành tài, để về nước, cứu dân, để phát triển xã hội Việt Nam văn minh và tiến bộ".
Tháng 2/1912, Việt Nam Quang phục hội được thành lập, Nguyễn Thượng Hiền là một thành viên chủ chốt hoạt động ở Quảng Đông, Trung Quốc. Với tài trí mưu lược, lại nhạy bén với thời cuộc, Nguyễn Thượng Hiền đã khơi dậy lòng yêu nước, truyền bá hệ tư tưởng mới trong đông đảo trí thức và sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ. Chính những tư tưởng duy tân trong chính trị này đã tạo dấu gạch nối quan trọng cho sự truyền bá tư tưởng yêu nước và cách mạng vào Việt Nam trong những giai đoạn về sau.
Theo nhà sử học Lê Văn Lan, bên cạnh sự nghiệp của một bậc chí sĩ yêu nước, Nguyễn Thượng Hiền còn là một tài năng kiệt xuất với một sự nghiệp văn chương đồ sộ. Thơ văn của ông vừa phản ánh tâm tư, ý chí, khát vọng của chí sĩ yêu nước trong bối cảnh cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỳ XX, vừa bộc lộ cảm xúc, suy tưởng của một con người mang tư tưởng tiến bộ, nhân văn.
"Cụ là người đã làm giàu cho lịch sử văn hóa, văn chương nước nhà bằng kho tàng sáng tác hơn 600 bài thơ Hán ngữ, Việt ngữ, chữ Nôm đủ các thể loại. Những bài thơ, tập thơ như thế được sáng tạo không phải là ngâm hoa vịnh Nguyệt mà chính là để bày tỏ chí hướng, ký sự những sự việc liên quan hoặc chính là cách mạng, là đấu tranh. Quan trọng hơn nữa đấy là những lời thơ để cổ vũ, động viên và đặc biệt là chỉ đường vạch lối cho đồng bào, đồng chí mình trong hoàn cảnh mà cách mạng, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã có bước chuyển hướng rất mạnh mẽ".
Xuất thân từ nền Nho học, Nguyễn Thượng Hiền không chỉ coi việc dạy chữ là truyền đạt tri thức, mà còn là quá trình hun đúc nhân cách, nuôi dưỡng chí khí và ý thức trách nhiệm với xã hội, với quốc gia. Với ông, đạo học không dừng lại ở khuôn phép kinh điển mà phải gắn với thực tiễn vận nước. Người thầy, theo ông, phải trở thành một “người khai sáng”, giúp học trò vượt qua lối học cũ, tiếp cận những tư tưởng tiến bộ, từ đó hình thành lớp người mới có tri thức và bản lĩnh để gánh vác vận mệnh dân tộc.
Tên tuổi danh nhân Nguyễn Thượng Hiền mãi lưu danh sử sách trong vai trò một chí sĩ yêu nước, một nhà văn hóa lớn, một tác giả văn học lớn của đất nước.
